Xuyên Không Cổ Đại: Thiếu Gia Làm Ruộng, Ấm Áp Điền Viên › Chương 32
Chương 32: Dâng thư can gián, thức đêm sửa văn
Chương 32· 4.122 từMiễn phí
Chương 32: Dâng thư can gián, thức đêm sửa văn
— Hồi đầu ta nóng vội quá, chỉ chăm chăm muốn kiếm thật nhiều tiền để chuộc lại mấy mẫu ruộng hương hỏa của gia đình, lại còn nuôi mộng thuê một gian mặt tiền trên huyện Quan Dương để mở tiệm buôn bán nữa chứ.
Lư Hủ gạt nhẹ mấy cuốn sách đang mở dang dở trên bàn sang một bên, ngồi vào chỗ quen thuộc trong thư phòng của Nhan Quân Tề. Một tay hắn chống cằm, tay kia lật giở cuốn sổ tính toán nhỏ xíu của mình, thở dài ngao ngán:
— Giờ thì giá ruộng đất tăng vọt lên trời, ta chẳng kham nổi nữa. Việc bán bánh quẩy cũng ngày một khó khăn. Ta tính nhân lúc này đi khai khẩn vài mẫu đất hoang, đợi ít hôm nữa thời tiết mát mẻ thì gieo ít kiều mạch. Huynh xem tính toán như thế có ổn thỏa không?
Dứt lời, Lư Hủ lại lẩm bẩm tiếc nuối:
— Biết thế này thì ngay từ đầu hai mẫu ruộng nhà ta chẳng trồng rau làm gì, cứ gieo hết kê có phải ấm bụng hơn không!
Nhan Quân Tề ngước mắt nhìn hắn, khẽ hỏi:
— Đệ định không bán bánh quẩy nữa sao?
Trong lòng Lư Hủ thoáng dấy lên nỗi giằng xé khôn nguôi.
Biết bao công sức hắn mới tích lũy được lượng khách quen đông đảo, trầy trật lắm mới đứng vững chân ở chợ phố Đông, bỏ ngang thì tiếc đứt ruột:
— Vẫn phải lên huyện chứ, có điều ta phải tính kế bán món khác thôi.
Lương thực lúc này quá đỗi đắt đỏ, làm bánh quẩy tiêu tốn bột mì nhiều không xuể.
Nhan Quân Tề lại hỏi:
— Thế có bán ốc đồng xào cay nữa không?
Lư Hủ chớp mắt nhẩm tính chi phí: ốc đồng thì tự mò ở mương máng chẳng tốn một xu, dầu ăn, muối hột và các loại gia vị cay nồng dự trữ trong nhà vẫn còn khá nhiều. Vào thời điểm bão giá này, may sao những loại thảo dược dùng làm gia vị cay vẫn chưa tăng giá chóng mặt, thế cũng là tạ ơn trời đất lắm rồi.
Hắn lôi tờ giấy nháp vẽ ngoằn ngoèo ra hí hoáy ghi chép, chợt nhớ tới món tương vừng của mình.
Mấy ngày gần đây, niềm vui hiếm hoi duy nhất chính là việc lão đầu Lưu Du Tử rốt cuộc cũng nghiền thành công mẻ tương vừng đầu tiên, và Tam thẩm cũng đã tích cóp đủ tiền để tậu một con bò cày.
Mẻ tương vừng của Lưu Du Tử thơm ngon, thuần khiết hơn bất cứ loại tương đóng chai nào Lư Hủ từng nếm qua ở kiếp trước. Thế nhưng hôm hắn đến nhận hàng thì lại xảy ra một hồi rắc rối nho nhỏ: Lưu Du Tử nhất quyết không chịu nhận tiền đồng!
Khế ước hai bên đã lập giấy trắng mực đen rõ ràng: một trăm năm mươi văn tiền một cân tương vừng. Bây giờ tiền đồng mất giá thảm hại, cầm số tiền ấy chẳng mua nổi mấy bơ gạo, ruột gan Lưu Du Tử xót xa như bị dao cứa. Lão già sống chết đòi Lư Hủ phải quy đổi sang lượng thóc thực tế theo thời giá lúc ký văn tự.
Lư Hủ trừng mắt:
— Vừng của bác đâu phải mới mua lúc bão giá này! Bán cho ta một trăm năm mươi văn một cân thì bác chịu thiệt chỗ nào cơ chứ?
Lưu Du Tử lăn đùng ra ăn vạ:
— Bây giờ một cân lúa mạch ngoài chợ đã bán một trăm năm mươi văn rồi! Một cân lúa mạch đòi đổi trắng một cân tương vừng béo ngậy của ta sao? Giao hàng theo giá đó thì cả nhà ta dắt díu nhau đi húp gió Tây Bắc mà sống à? Không bán chác gì hết! Giỏi thì chú em lên nha môn báo quan bắt ta đi!
Lão già dở chứng ngồi bệt ngay trước ngưỡng cửa, dang hai tay chắn không cho Lư Hủ bước vào trong.
Lư Hủ giận đến bật cười. Hắn tự nhận da mặt mình đã thuộc hàng dày dạn, không ngờ hôm nay lại đụng phải một lão già vô lại còn cao tay hơn. Hắn cũng chẳng thèm vào nhà, lập tức xắn tay áo đứng chống nạnh ngay trước cửa tiệm cãi nhau tay đôi một trận nảy lửa với Lưu Du Tử.
Hai bên cò kè bớt một thêm hai, giằng co hồi lâu, cuối cùng cũng ngã giá được một mức chiết trung hợp tình hợp lý: bốn cân lúa mạch đổi lấy một cân tương vừng.
Nếu tính theo giá thị trường trước đây thì Lư Hủ lãi to. Nhưng Lưu Du Tử ôm đống vừng rang mà chẳng mua nổi gạo ăn, cả nhà đang đói mốc mồm, cho nên đôi bên đều cảm thấy mức giá này quá đỗi vừa lòng. Trong bụng ai nấy đều mở cờ nhưng ngoài mặt vẫn phải làm bộ ấm ức như thể vừa bị đối phương lừa cho một vố đau điếng. Hôm sau Lư Hủ chở tới sáu mươi cân lúa mạch đổi lấy mười lăm cân tương vừng đặc sánh, cả hai bên cùng hoan hỉ.
Có điều, dự định ban đầu của Lư Hủ là nhân lúc trời nắng gắt làm món mì lạnh trộn tương vừng, nay ngặt nỗi bột mì đắt đỏ quá nên đành gác lại.
Hắn vắt óc suy nghĩ một hồi, cuối cùng mắt sáng rực lên:
— Nắng nôi thế này bán lẩu cay cũng chẳng ai nuốt nổi, hay là ta làm món dưa nộm trộn tương vừng đi! Tiện thể bán luôn cả sốt tương vừng cho khách mang về!
Đã vạch xong hướng đi, Lư Hủ không còn đắn đo nữa. Hắn cặm cụi tính toán trên giấy số lúa mạch cần giữ lại cho gia đình mình, Tam thẩm, Tứ thẩm, ông bà nội và cả nhà Nhan Quân Tề để ăn dè sẻn cho tới tận vụ thu hoạch mùa thu.
— Giữ lại chừng này thì kiểu gì cũng đủ ăn tới vụ thu… ừm, vẫn phải dôi ra một ít đề phòng lúc đau ốm bất trắc, rồi còn phải để dành lương thực ăn Tết nữa chứ.
Lư Hủ lại quẹt thêm mấy đường mực lên giấy. Hắn cầm tờ giấy chi chít những ký hiệu kỳ quặc tựa như bùa trừ tà mà ngoài hắn ra chẳng ai trên đời dịch nổi lên ngắm nghía, cặm cụi cộng trừ một hồi, tính toán ra số lượng bánh quẩy có thể chiên mỗi ngày:
— Tính ra thì cứ cách hai ngày ta lại lên Quan Dương một chuyến, mỗi chuyến bán năm mươi chiếc bánh quẩy kèm theo các món rau dưa trộn. Buổi trưa bán xong xuôi gánh xe về làng, buổi chiều vẫn kịp xách cuốc đi khai hoang vỡ đất!
Lư Hủ đắc ý tự khen ngợi bản thân:
— Ta đúng là một thiên tài làm ăn!
Hắn gấp gọn tờ giấy bùa chú ấy lại, nhét vào ngăn kéo bàn của Nhan Quân Tề. Hắn hoàn toàn không để ý tờ nháp nguệch ngoạc của mình hệt như một chú vịt con xấu xí lạc giữa bầy thiên nga, ngay bên dưới nó đang đè lên một bức thư được gấp nếp chỉnh tề, vuông vức. Lư Hủ vẫn chống cằm mơ màng nghĩ cách thu gom nguyên liệu:
— Ngày mai lên huyện ta sẽ ghé tiệm tạp hóa mua ít rong biển khô, mộc nhĩ, nấm hương. Vườn sau nhà mình có sẵn đậu cove, mướp đắng; bên vườn Tam thẩm thì bạt ngàn dưa chuột, mướp hương, bầu bí, rồi hái thêm ít rau dại trên đồi, mua thêm mấy bìa đậu phụ nữa… À mà chẳng rõ tiệm đậu phụ có chịu nhận tiền đồng không… Huynh có thiếu giấy mực gì không để ta mua hộ một ít? Đợi làm xong món rau dưa trộn tương vừng này, người đầu tiên được nếm thử nhất định phải là cả nhà mình!
Nhan Quân Tề im lặng hồi lâu, bỗng nhiên cất tiếng trầm ấm:
— Ngày mai ta đi cùng đệ.
Lư Hủ ngơ ngác:
— Hả? Huynh cũng đi cùng á?
Nhan Quân Tề từ từ rút bức thư được gấp nếp cẩn thận dưới ngăn kéo ra, ánh mắt điềm tĩnh lạ thường:
— Ta đi dâng thư.
Lư Hủ đứng hình một lúc lâu, đầu óc quay cuồng không hiểu chuyện gì. Dâng thư? Dâng thư gì cơ chứ? Trong cả hai phần ký ức của hắn, chưa từng có khái niệm một thảo dân áo vải bình thường lại có thể đi "dâng thư" lên chốn công đường.
Hắn buột miệng hỏi:
— Dâng thư cho ai?
Nhan Quân Tề đáp:
— Cho Huyện lệnh đại nhân.
Lư Hủ cố gắng giữ bình tĩnh:
— Cho ta xem thử được không?
Nhan Quân Tề đưa bức thư qua.
Nhìn những nét chữ cổ trang trọng cùng lối hành văn biền ngẫu sâu xa, Lư Hủ đoán mò mãi mới hiểu được đại ý: Nhan Quân Tề viết một bức "thư gửi Huyện trưởng", phản ánh việc đám sai nha tạo lệ thu gom thuế lương lừa trên gạt dưới, bóc lột dân chúng đến tận xương tủy.
Hắn nhìn chằm chằm vào phong thư hồi lâu, cố gắng duy trì vỏ bọc dốt đặc cán mai của mình:
— Cái này… rốt cuộc là viết những gì thế huynh?
Nhan Quân Tề bèn kiên nhẫn giải thích cặn kẽ từng câu từng chữ cho hắn nghe. Trong đầu Lư Hủ lúc này dao động dữ dội giữa hai ý nghĩ: một là Nhan Quân Tề này to gan thật đấy, và hai là văn chương của huynh ấy viết xuất sắc quá chừng. Hắn chẳng biết nên thay bạn đưa ra quyết định thế nào.
Hắn lo lắng hỏi:
— Huynh viết thứ này… có bị người ta bắt nhốt vào ngục không đấy?
Nhan Quân Tề lắc đầu:
— Ta đã thi đỗ Đồng sinh, dẫu chưa được vào học trong phủ học thì theo luật lệ triều đình, ta vẫn có tư cách dâng thư thẳng thắn can gián lên quan phụ mẫu bản hạt.
Vào thời kỳ đầu lập quốc, triều Đại Kỳ để thu phục nhân tài đã hết sức khuyến khích dân gian thẳng thắn can gián. Thứ dân áo vải có thể trực tiếp dâng tấu lên hoàng đế, bất kể là bàn luận chính sự, tự tiến cử bản thân hay kiện cáo oan sai, thảy đều không bị ngăn cấm. Về sau triều đình xử lý không xuể tấu chương, mới dần quy định thứ dân phải có người tiến cử mới được gửi thư lên trung ương. Thế nhưng ở các châu huyện địa phương, quyền lợi dâng thư can gián của các bậc sĩ tử và dân thường vẫn được bảo lưu, chỉ là bá tánh quanh năm lam lũ không hay biết mà thôi.
Lư Hủ thì hoàn toàn mù tịt về luật lệ này, hắn chỉ cảm thấy Nhan Quân Tề lá gan quá lớn. Từ xưa tới nay chỉ thấy quan xử tội dân, chứ làm gì có chuyện thứ dân đi kiện quan nha?
Lư Hủ thì thào:
— Hay là huynh đưa bức thư đây cho ta, ta rình lúc nha môn không ai để ý ném tọt qua tường rào vào bên trong nhé? Tường bao huyện nha cũng đâu có cao lắm, ta trèo qua dễ ợt!
Nhan Quân Tề không kìm được bật cười thành tiếng. Bầu không khí u ám trĩu nặng suốt mấy ngày qua bỗng chốc tan biến sạch sẽ, gương mặt thanh tú của hắn lại rạng rỡ hẳn lên. Hắn hiểu được tâm ý mà có lẽ chính Lư Hủ cũng chưa nhận ra: bức thư này thực sự nên dâng, chỉ vì quá đỗi lo lắng cho sự an nguy của hắn nên Lư Hủ mới tính kế ngăn cản mà thôi.
Quyết tâm dâng thư trong lòng Nhan Quân Tề càng thêm kiên định:
— Năm ngoái khi thi Đồng sinh, ta may mắn được diện kiến Huyện lệnh đại nhân một lần. Ngài tuyệt đối không phải phường tham quan ô lại bỏ mặc dân chúng lầm than. Cho dù đọc xong bức thư này ngài có nổi giận lôi đình đi chăng nữa, cũng quyết không nỡ làm khó một Đồng sinh nhỏ bé như ta đâu.
Lư Hủ vẫn chưa hết băn khoăn:
— Lòng người cách một lớp da, sao huynh biết được ông ta không phải đang giả nhân giả nghĩa? Vạn nhất chính ông ta ngầm cho phép đám sai nha làm càn thì sao? Mà dẫu ông ta không hay biết, đám tay chân kia dám ngang nhiên làm bậy sau lưng quan huyện thì chứng tỏ chỗ dựa của chúng chẳng phải dạng vừa! Huynh dâng thư thế này, khéo đắc tội với cả một bầy kền kền quyền thế. Sau này huynh còn phải đi thi Cử nhân, bị bọn chúng ngáng đường gây khó dễ thì biết làm sao?
Nhan Quân Tề bình thản đáp:
— Nếu quan trường triều đình đã mục ruỗng đến mức ấy, thì khoa cử này ta không thi cũng chẳng sao.
Lư Hủ nghẹn họng:
— Huynh…
Hắn cảm thấy cái tính bướng bỉnh, cực đoan của Nhan Quân Tề này nhất định phải uốn nắn lại mới được. Lư Hủ vội vàng túm lấy tay bạn khuyên nhủ hết lời:
— Có lý thôi chưa đủ, huynh còn phải biết lựa cách mà nói nữa chứ! Ví dụ như ta làm sai chuyện gì, Lư Chu đùng đùng xông ra chỉ trích mắng mỏ ta một trận xối xả, dù ta biết mình sai thật thì lúc ấy ta cũng chỉ muốn đét cho nó mấy cái vào mông thôi! Người lớn ai chẳng coi trọng thể diện.
Nhan Quân Tề mỉm cười gật đầu:
— Ừm, cho nên ta viết rất uyển chuyển đấy chứ.
Lư Hủ lại cạn lời. Hắn hồi tưởng lại từng đoạn trong bài văn của Nhan Quân Tề: thoạt tiên là phân tích cục diện thiếu đói lương thực trong thiên hạ, vị trí địa lý cùng tầm quan trọng của sản vật Quan Dương; tiếp đó dẫn ra số liệu thực tế chứng minh nỗi cơ cực, điêu đứng của muôn dân; rồi quay sang ca ngợi công đức cai trị của Huyện lệnh; cuối cùng mới khéo léo bóc trần bộ mặt đám tiểu lại dối trên lừa dưới, xin đại nhân sáng suốt soi xét.
Bố cục bài văn thì hoàn hảo không chê vào đâu được. Nhan Quân Tề đã khéo léo quy chụp mọi tệ nạn tham nhũng là do bọn tiểu lại lộng quyền che mắt quan trên, hoàn toàn không dính dáng gì tới một vị Huyện lệnh cần chính thương dân. Lư Hủ tự biết tài học của mình có tu mười kiếp cũng chẳng viết nổi một áng văn sâu sắc như thế. Nhưng ngặt nỗi, phần nịnh nọt ca ngợi người ta thì Nhan Quân Tề tiếc từng giọt mực, còn phần vạch tội chửi bới thì ngòi bút lại sắc bén, cay nghiệt quá chừng! Dẫu trong thư không hé nửa lời chê trách triều đình thu thuế nặng, nhưng từng câu từng chữ đều toát lên nỗi uất hận rằng tầng tầng lớp lớp bóc lột thế này là đang dồn dân chúng vào bước đường cùng làm phản.
Đến cả một kẻ dốt đặc cán mai như Lư Hủ đọc câu "Trị chi an há có thể cửu hồ" cũng hiểu ngay ý là "Cai trị kiểu này thì yên ổn sao nổi được lâu dài!".
Lư Hủ vò đầu bứt tai. Nghĩ kỹ lại thì bảng số liệu giá lương thực biến động từng ngày, tình cảnh người dân Quan Dương khốn đốn mua không nổi hạt gạo, hay một lượng bạc đổi được bao nhiêu tiền đồng mà Nhan Quân Tề liệt kê trong thư… hóa ra đều do chính miệng hắn hằng ngày kể lại cho bạn nghe!
Lư Hủ lại cạn lời thêm lần nữa. Đúng là tự mình rước họa vào thân, rỗi việc quá hay sao mà ngày nào cũng bô bô kể mấy chuyện ấy cho Nhan Quân Tề nghe chứ!
Nhan Quân Tề nhìn thẳng vào mắt hắn, ánh mắt trong veo mà cháy bỏng:
— Ta đã trăn trở suy nghĩ suốt nhiều ngày đêm xem có nên dâng bức thư này hay không. Đạo lý đối nhân xử thế trên đời ta đâu phải không hiểu. Nếu chưa tận mắt nhìn thấy, chưa tận tai nghe thấy, ta có thể tự ru ngủ bản thân giả như không biết gì. Nhưng một khi đã chứng kiến cảnh tượng xót xa ấy, ta không thể tiếp tục lừa mình dối người được nữa. Những điều mắt thấy tai nghe ấy như tảng đá ngàn cân đè nặng lên lồng ngực ta. Ngày đêm ta tự chất vấn lương tâm: đọc bao nhiêu sách thánh hiền, nếu không đỗ Cử nhân, Tiến sĩ thì chẳng lẽ công sức bao năm qua đều đổ sông đổ biển hay sao?
Lư Hủ nhìn đôi mắt như có ngọn lửa đang bùng cháy của bạn, nhất thời nghẹn ngào không thốt nên lời.
— Ban đầu ta do dự lắm, đã mấy bận định châm lửa đốt quách bức thư này đi cho rảnh nợ. — Bàn tay Nhan Quân Tề đặt lên phong thư, siết chặt dần, ngọn lửa trong mắt bùng lên rực rỡ — Thế nhưng hôm nay nghe những lời đệ giãi bày, ta đã nghĩ thông suốt rồi. — Cả người Nhan Quân Tề như trút được gánh nặng nghìn cân, giọng nói dâng trào nhiệt huyết, những kìm nén bấy lâu nay bỗng vỡ òa — Quân tử ngẩng đầu không thẹn với trời, cúi đầu không hổ với đất; đối ngoại không thẹn với người đời, đối nội không hổ với lương tâm. Nếu chuyện này ta làm ngơ không dám lên tiếng, thì tâm chẳng an, ý chẳng bình, làm sao còn có thể ngồi yên đọc sách thánh hiền được nữa? Cùng lắm thì đánh mất con đường công danh tiền đồ mà thôi! Nếu không thể đem tài học ra giúp đời, ta sẽ lui về tu dưỡng thân tâm. Cùng lắm thì ta buông bỏ bút nghiên, đi theo đệ khai hoang làm ruộng, buôn bán kiếm sống qua ngày, khéo lại thảnh thơi, khoái hoạt hơn nhiều!
Nhan Quân Tề ghé sát lại trước mặt Lư Hủ, như muốn phơi bày toàn bộ cõi lòng chân thành nhất cho bạn nhìn thấy.
Lư Hủ sững sờ. Vốn sống, học thức và suy nghĩ của hắn vốn chẳng đủ sâu sắc để thấu triệt nỗi cô độc, sự phẫn uất, khí tiết cùng lý tưởng cao đẹp đang định hình trong tâm hồn người bạn trẻ tuổi này. Thế nhưng Lư Hủ lại cảm nhận được vô cùng rõ ràng sự tin tưởng tuyệt đối và tấm lòng chân thành không chút giấu giếm mà Nhan Quân Tề dành trọn cho mình.
Nhan Quân Tề sẵn sàng bộc bạch toàn bộ ruột gan, mở toang cánh cửa tâm can cho hắn nhìn thấu.
Khoảnh khắc ấy, bằng trực giác nhạy bén, Lư Hủ biết rằng mình không thể tiếp tục khuyên can nữa. Nếu còn bàn lùi thì chính là phụ bạc tấm chân tình ngút ngàn của bạn hiền.
Lư Hủ cũng bừng bừng nhiệt huyết. Đời người kết giao bằng hữu tri kỷ chẳng phải là như thế này hay sao? Cần quái gì phải tính toán thiệt hơn mất mát cho mệt xác, chỉ cần đồng tâm đồng chí, sống cho xứng đáng với lòng mình là đủ!
Hắn xắn mạnh tay áo lên, hào sảng tuyên bố:
— Đường đời đâu chỉ có mỗi một lối công danh khoa cử, ai bảo cứ phải đọc sách mới nên người! — Bản thân hắn có học nổi đâu! — Nếu sau này huynh không đọc sách được nữa thì đã có ta che chở nuôi nấng huynh!
Cùng lắm thì hắn đi làm đầu bếp, với tay nghề của hắn thì lo gì không kiếm nổi cơm ăn áo mặc cho cả hai!
Lư Hủ hừng hực khí thế, hào hùng vạn trượng. Nhưng khi cúi đầu nhìn xuống áng văn chương rực rỡ trên bàn, nghĩ tới cái đầu óc thông minh xuất chúng hiếm có của Nhan Quân Tề, hắn vội vàng kéo lý trí trở lại, vội vàng chữa cháy:
— Nhưng mà học được thì vẫn cứ phải ráng mà học! Con người ai cũng có sở trường riêng, ta thạo việc bếp núc nấu nướng, còn huynh thì giỏi việc kinh sử văn chương, mỗi người một thế mạnh mới làm nên chuyện lớn chứ!
Nhan Quân Tề mỉm cười ấm áp.
Lư Hủ chộp lấy bài văn:
— Mặc kệ đúng sai nên hay không nên, nếu huynh đã muốn dâng thư, không dâng thì ấm ức không chịu nổi, vậy thì cứ dâng! Ta ủng hộ huynh hết mình! — Hắn kéo ghế ngồi sát lại bên cạnh Nhan Quân Tề — Nhưng huynh không được viết huỵch toẹt, gai góc như thế này, viết thế chẳng khác nào chọc giận người ta. Huynh phải sửa lại, phải nịnh cho quan huyện nghe mát lòng mát dạ, rồi mới khéo léo lựa lời can gián. Để ta bày mưu cho huynh!
Nhan Quân Tề ngoan ngoãn nghe theo. Lư Hủ nói câu nào, hắn liền cầm bút chấm mực sửa lại câu ấy trên bản thảo nháp. Mặc cho Lư Hủ dùng toàn những lời lẽ dân dã, ba hoa khoác lác trên trời dưới biển, ngòi bút của Nhan Quân Tề lướt đi thoăn thoắt, lập tức biến chúng thành những áng văn chương biền ngẫu trang nhã, hàm súc và vô cùng hoa mỹ.
Lư Hủ hoa chân múa tay giảng giải:
— Huynh phải viết đại ý là: Chúng dân chúng con được sống ở đất Quan Dương này, nằm dưới sự cai trị anh minh của ngài thì quả đúng là phúc đức ba đời tích lại, lòng tôn sùng ngưỡng mộ của chúng con đối với ngài cuồn cuộn dạt dào tựa như nước sông Trường Giang chảy mãi không bao giờ dứt!
Nhan Quân Tề mỉm cười hạ bút viết:
— "Mộc trạch vu quân chi trị hạ, dân giai cảm bội hạnh thậm chi chí."
Viết xong một câu, Nhan Quân Tề lại đọc to cho Lư Hủ nghe. Đến chỗ nào Lư Hủ nghe không hiểu, hắn lại tỉ mỉ giảng giải ý tứ văn chương. Mỗi khi Nhan Quân Tề viện dẫn kinh điển trích dẫn sách xưa, hai mắt Lư Hủ lại tròn xoe thán phục; còn đến những đoạn cần chỉ trích, vạch tội tệ nạn thì Lư Hủ lại nằm bò ra bàn vò đầu bứt tai, cố công nghĩ ra những từ ngữ mềm mại nhất để sửa cho thật uyển chuyển.
Trời tối dần, Lư Hủ chạy vội về nhà và mấy lùa cơm rồi bưng cả cây đèn dầu sang tiếp tục cùng Nhan Quân Tề sửa văn. Cả bữa ăn đầu óc hắn chỉ toàn lởn vởn những câu chữ trong bức thư, đến bài văn thi cử kiếp trước của chính mình hắn cũng chưa từng nghiêm túc chăm chút đến mức này bao giờ.
Lư Hủ thầm nghĩ, mình còn chưa đầy mười tám tuổi, cớ sao lại có cái cảm giác quen thuộc như mấy ông bố bà mẹ nửa đêm phải ngồi kèm con học bài thế này không biết!
Dung lượng não bộ dần cạn kiệt, hắn lấy tay chống cằm, đầu bắt đầu gật gà gật gù vì buồn ngủ. Chờ cho tới khi Nhan Quân Tề chép xong xuôi bản thảo sạch đẹp cuối cùng, Lư Hủ cũng lười chẳng buồn mò về nhà nữa. Hắn khoác vai Nhan Quân Tề rồi đổ nhào lên giường của bạn, chui tọt như một con sâu vào góc giường sát vách đất, ôm chặt lấy chiếc gối nằm ngáy khò khò ngon lành.
Bình luận0
Chia sẻ cảm nhận của bạn về bộ truyện này
Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.