Nàng Bennet Và Thế Giới Mới › Chương 92
Chương 92: Chấn Động Học Thuật
Chương 92· 2.074 từMiễn phí
Chương 92: Chấn Động Học Thuật
Joseph Hooker là một trong những người bạn thân thiết nhất của Charles Darwin, đồng thời cũng là Viện trưởng Vườn Thực vật Hoàng gia Kew.
Ngay sau khi đọc xong bản dịch tiếng Anh do George gửi tới, ông lập tức cho ngăn riêng một khu thí nghiệm chuyên biệt trong nhà kính của Kew, phân công vài nghiên cứu sinh trẻ tuổi bắt đầu lặp lại một cách hệ thống các thí nghiệm lai đậu Hà Lan của Mendel.
Trong thư gửi cho George, ông viết: "Nếu dữ liệu của vị tu sĩ Brno này chịu đựng được sự kiểm chứng lặp đi lặp lại, thì di truyền học sẽ không còn chỉ là một nhánh phụ thuộc của lịch sử tự nhiên, mà sẽ trở thành một ngành khoa học chính xác, độc lập dựa trên nền tảng toán học."
Thomas Huxley — "Chú chó chọi của Darwin", người bảo vệ hăng hái nhất cho thuyết tiến hóa — lại có phản ứng phức tạp hơn nhiều trước bài luận văn này.
Thời trẻ, ông từng làm trợ lý bác sĩ quân y trên tàu hải quân, nhưng thành tựu của ông trong lĩnh vực cổ sinh vật học và giải phẫu học so sánh lại vô cùng thâm sâu. Hàng loạt hình thái quá độ trung gian mà ông phát hiện trong các hóa thạch chính là bằng chứng đanh thép cho lý thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin.
Rất tiếc, trong một thời gian dài, ông luôn giữ thái độ thận trọng đối với cơ chế di truyền, cho rằng thuyết phiếm sinh của Darwin chỉ là một giả thuyết mang tính tạm thời, chưa đủ sức thuyết phục công chúng.
Khi đọc được bản dịch tiếng Anh do George gửi đến, ông đang chuẩn bị một bài thuyết trình về các phát hiện cổ sinh vật học mới tại Hội Hoàng gia London.
Trong thư hồi đáp George, ông chia sẻ rằng tuy bản thân quen nghiên cứu lịch sử sinh giới qua các tầng đá hơn là qua những hạt đậu Hà Lan, nhưng ông hoàn toàn đọc hiểu được logic toán học của Mendel. Ông đặc biệt tán thưởng tinh thần dùng phương pháp định lượng để kiểm chứng giả thuyết sinh học ấy.
Ông còn hóm hỉnh thêm rằng, nếu bản thân trẻ lại hai mươi tuổi, ông nhất định sẽ cân nhắc tự tay kiểm chứng những phát hiện này trong nhà kính của viện nghiên cứu mình.
Dẫu vậy, ông cũng không quên nhắc nhở George rằng trước khi thu thập đủ dữ liệu từ các thí nghiệm lặp lại độc lập, không nên quá vội vàng tuyên bố thuyết phiếm sinh hay học thuyết Lamarck đã bị lật đổ. Giới khoa học cần có thời gian để tiêu hóa "quả bom" dội ra từ một tu viện này.
Giữa cơn bão học thuật do bản tập yếu của George Darwin khơi nguồn, có một người mà phản ứng ngay từ đầu đã hoàn toàn khác biệt so với những người ủng hộ thuyết tiến hóa khác.
Người đó chính là Francis Galton — em họ của Darwin, người tiên phong trong lĩnh vực ưu sinh học và nhân chủng học, đồng thời cũng là một trong số ít những nhà nghiên cứu theo phương pháp định lượng.
Trong thư, Galton viết rằng ông đã nghiên cứu kỹ lưỡng bản luận văn về thí nghiệm lai đậu Hà Lan của Mendel.
Vốn là người am tường toán học, ông dễ dàng nắm bắt được học thuyết của Mendel. Ông đánh giá đây là một luận văn xuất sắc đến ngạt thở, và sự thất bại của thuyết phiếm sinh nằm chính ở chỗ nó không thể biểu đạt bằng công thức toán học.
Tuy nhiên, ông cho rằng vị tu sĩ này rất có thể đã giản đơn hóa một cách quá mức tính chất phức tạp của hiện tượng di truyền.
Bởi lẽ từ những dữ liệu do chính Mendel cung cấp, một số tính trạng của đậu Hà Lan không phải lúc nào cũng thể hiện sự phân ly ba - một rõ rệt, mà trong các tổ hợp lai khác nhau lại bộc lộ những mức độ quá độ trung gian khác nhau.
Ông đính kèm bản ghi chép thí nghiệm lai đậu Hà Lan do chính mình thực hiện vài năm trước vào sau bức thư, dùng dữ liệu cá nhân để luận chứng rằng đối với chiều cao cây và màu vỏ hạt, quả thực có quan sát thấy sự phân ly tỷ lệ ba - một; nhưng ở những tính trạng như kích thước hạt đậu hay độ dày của thân cây, những gì xuất hiện lại là một đường cong phân bố biến thiên liên tục, chứ không phải các phân loại rời rạc rạch ròi.
Ông viết: "Nếu mô hình nhân tố di truyền rời rạc của Mendel là đúng, thì đáng lý tôi phải nhìn thấy mọi tính trạng đều phân minh như thân cao và thân thấp. Nhưng những gì tôi chứng kiến lại là sự phân bố liên tục tương tự như chiều cao ở con người — cha mẹ cao ráo có xu hướng sinh con cái cao ráo, nhưng chiều cao của đứa trẻ sẽ dao động xung quanh giá trị trung bình của cha mẹ. Hiện tượng quy về mức trung bình này, tôi đã thu thập vô số dữ liệu gia hệ về chiều cao con người để kiểm chứng, và những dữ liệu đó rất khó giải thích bằng các nhân tố di truyền rời rạc. Cho nên, cơ chế di truyền e rằng không đơn giản như Mendel tưởng tượng."
Lá thư này khiến George chìm vào suy tư sâu sắc.
Uy danh học thuật và năng lực nghiên cứu định lượng của Galton thuộc hàng hàng đầu trong toàn bộ giới khoa học Anh quốc. Sự nghi vấn của ông đối với Mendel không xuất phát từ định kiến lý thuyết, mà dựa trên chính những số liệu thực nghiệm vô cùng vững chắc của bản thân.
Nếu không thể giải thích rõ ràng — tại sao cùng là đậu Hà Lan mà có những tính trạng lại biểu hiện sự phân ly rời rạc, trong khi những tính trạng khác lại biến thiên liên tục — thì mô hình của Mendel sẽ luôn tồn tại một điểm mù logic không thể lấp đầy.
Lá thư của Galton nằm trên bàn làm việc của George Darwin suốt gần mười ngày.
Ông liên tục giở đi giở lại các bảng số liệu lai đậu Hà Lan và biểu đồ gia hệ chiều cao con người, cố gắng tìm kiếm một khung toán học có thể dung hòa dữ liệu của cả hai bên.
Cuối cùng, ông mang theo bức thư đến London, hẹn gặp Edith tại một thư viện tư nhân gần UCL để cùng thảo luận về vấn đề này.
Edith đọc xong bức thư, im lặng hồi lâu.
Sự nghi ngờ của Galton trong mắt nàng không hề là sự làm khó cố ý, mà là phản ứng tự nhiên nhất của một nhà thống kê học nghiêm cẩn khi đứng trước hai tập dữ liệu tưởng chừng như mâu thuẫn — ông cần có ai đó bắc giúp cây cầu logic giữa hai nguồn dữ liệu ấy.
Nàng đặt lá thư xuống, quay sang nói với George: "Nếu như cao hay thấp không phải do một cặp nhân tố quyết định, mà do nhiều cặp nhân tố cùng đồng thời quyết định thì sao? Một cặp nhân tố tạo ra sự phân ly rời rạc ba - một, hai cặp nhân tố phân ly độc lập tạo ra tỷ lệ kiểu hình phức tạp hơn. Nhưng nếu cùng một tính trạng được kiểm soát đồng thời bởi hàng chục cặp nhân tố, mà mỗi cặp đều tuân theo quy luật phân ly độc lập, thì khi xếp chồng lên nhau, kiểu hình thu được sẽ không còn là hai loại đối lập rạch ròi nữa, mà là một chuỗi các mức độ liên tục từ thấp nhất đến cao nhất. Sự biến thiên liên tục mà chúng ta quan sát được không phải là do các nhân tố bị hòa tan vào nhau, mà là kết quả tích lũy thống kê. Dữ liệu chiều cao của Galton không hề bác bỏ Mendel, ông ấy chỉ mới nhìn thấy hiện tượng bề mặt của sự tích lũy đa gen mà thôi."
"Còn một bằng chứng nữa, bằng chứng này không cần đến đậu Hà Lan, cũng chẳng cần đến dữ liệu chiều cao, mà là điều chính ông và gia tộc của ông đã tận mắt chứng kiến." Nàng nhìn thẳng vào mắt George, "Cha của ông luôn nghi ngờ hôn nhân cận huyết đã gây tổn hại cho các con của mình. Khi người chị cả Anne của ông qua đời, ông ấy còn chưa đầy bốn mươi tuổi, nhưng từ đó về sau ông ấy đã dành hàng chục năm làm các thí nghiệm đối chứng về sự tự thụ phấn và lai xa ở thực vật — ông ấy phát hiện ra rằng thế hệ tự thụ phấn thì còi cọc, nhiều bệnh, tỷ lệ đậu hạt giảm mạnh, trong khi thế hệ lai xa lại chống chịu tốt hơn và khỏe mạnh hơn. Chính ông ấy đã ghi chép lại vô số dữ liệu thực nghiệm để chứng minh tác hại của hôn nhân cận huyết, nhưng ông ấy mãi vẫn không thể giải thích được cơ chế di truyền đằng sau hiện tượng đó."
Nét mặt George không có nhiều thay đổi, nhưng những ngón tay đang cầm bút của ông khẽ siết lại.
"Hiện tượng mà cha ông quan sát được — hôn nhân cận huyết dẫn đến thế hệ sau yếu ớt, nhiều bệnh tật, các dị tật bẩm sinh bộc phát tập trung — là điều hoàn toàn không thể giải thích được dưới khung lý thuyết di truyền hòa nhập. Nếu tính trạng của cha mẹ hòa quyện vào nhau như các màu sơn, thì tại sao huyết thống càng gần lại càng dễ xuất hiện dị tật? Về mặt logic đáng lý phải hòa lẫn đồng đều hơn mới đúng chứ. Nhưng nếu dùng mô hình nhân tố di truyền của Mendel để giải thích, hiện tượng này lại vô cùng thông suốt. Những người có quan hệ cận huyết chia sẻ một lượng lớn các gen cùng nguồn, tỷ lệ cả hai cùng mang một loại gen lặn gây bệnh cao hơn rất nhiều so với phối hôn ngẫu nhiên ngoài gia tộc. Khi hai người mang gen lặn sinh con, đứa trẻ có một phần tư xác suất nhận cả hai gen gây bệnh từ cha và mẹ, trở thành cá thể đồng hợp tử phát bệnh. Đó chính là lý do vì sao con cái của các cặp hôn nhân cận huyết lại dễ mắc bệnh di truyền. Những gen gây bệnh đó không phải bị 'hòa tan' mà thành, mà chúng vốn đã ẩn nấp sẵn trong gia hệ, chỉ là ở trạng thái dị hợp tử thì gen lặn không biểu hiện, còn hôn nhân cận huyết đã trao cho chúng cơ hội trở thành đồng hợp tử."
Nàng dừng lại một chút rồi tiếp tục: "Tôi đã nghiên cứu các công trình của Galton, bản thân ông ấy cũng đang nghiên cứu quy luật truyền lại dị tật gia tộc. Ông ấy phát hiện ra dòng họ có huyết thống càng gần thì một số dị tật di truyền càng dễ bộc phát tập trung — thể trạng yếu ớt, khiếm khuyết tinh thần, chết còi. Những hiện tượng này cha ông đã quan sát, Galton đã thống kê, nhưng cả hai đều chưa tìm ra cơ chế giải thích hợp lý. Lý thuyết nhân tố di truyền lặn của Mendel đã cung cấp một mô hình tự thân logic, vừa giải thích được dữ liệu thí nghiệm tự thụ phấn của cha ông, vừa giải thích được thống kê dị tật gia tộc của Galton, lại vừa hoàn toàn trùng khớp với trực giác của cha ông suốt nhiều năm qua về mối nguy hại của hôn nhân cận huyết."
Bình luận0
Chia sẻ cảm nhận của bạn về bộ truyện này
Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.