Người Giữ Lửa Phủ Tri Huyện › Chương 87
Chương 87: Cày sâu hai thước và đường huynh phương xa
Chương 87· 3.571 từMiễn phí
Chương 87: Cày sâu hai thước và đường huynh phương xa
Mạnh huyện lệnh cùng toán nha dịch vội vã theo chân Triệu Kiên trở về huyện nha. Lê Tiếu Tiếu cảm thấy chuyện khách khứa kinh thành chẳng dính dáng gì tới mình nên không mấy bận tâm, tiếp tục cắm cúi chăm lo cho thửa ruộng thí nghiệm của nàng.
Những người nông dân đang hì hục cày xới ngoài ruộng thực chất đều là tự nguyện tới giúp sức. Thấy trong tay nàng có một con trâu cày khỏe khoắn, lại vừa hay bọn họ may mắn bốc thăm trúng phần ruộng thuê của Mạnh đại nhân, mỗi nhà đều nhận được năm mẫu ruộng thượng đẳng màu mỡ. Miếng cơm manh áo của cả gia đình đều trông cậy vào năm mẫu ruộng này, bảo sao họ không dốc hết tâm can mà chăm chút.
Lúc trước nhìn thấy Lê Tiếu Tiếu vụng về dắt trâu ra cày, động tác lóng ngóng điều khiển con trâu đi loạng choạng, đi nửa ngày trời chưa xong nổi một đường cày thẳng thắn, mấy người nông dân cày ruộng bên cạnh nhìn không thuận mắt bèn bước sang hỏi han. Bấy giờ họ mới vỡ lẽ con bé này là tỳ nữ thân cận trong phủ Huyện lệnh, còn mười mẫu ruộng này là "ruộng thí nghiệm" riêng của nàng.
Nàng chỉ có vỏn vẹn mười mẫu ruộng mà trong tay lại có sẵn một con trâu cày! Đám nông phu lập tức nảy ra sáng kiến, liền đề nghị sẽ xúm vào cày xới xong xuôi toàn bộ mười mẫu ruộng cho nàng, đổi lại nàng cho họ mượn trâu về cày ruộng nhà mình.
Lê Tiếu Tiếu chẳng chút do dự gật đầu đồng ý ngay tắp lự. Nào chỉ có người nông dân kia, đám tá điền xung quanh vừa nghe tin con bé nhà Huyện lệnh chịu cho mượn trâu cày, người nào người nấy lập tức chạy sang vồn vã xin giúp một tay, chỉ mong được mượn trâu vài hôm.
Cuối cùng danh sách gom lại có tới gần hai mươi hộ gia đình. Mọi người bèn tổ chức bốc thăm công khai để quyết định thứ tự mượn trâu.
Năm mẫu ruộng nếu có trâu cày thì chỉ mất chừng một ngày rưỡi là cày xới xong xuôi; còn nếu phải dùng sức người còng lưng kéo bừa thì phải mất đứt năm ngày trời ròng rã.
Lê Tiếu Tiếu chỉ việc cho mượn một con trâu cày mà đổi lại được biết bao nhiêu nhân công xới đất không mất một đồng bạc, nàng thấy mình hời to.
Còn đám nông hộ chỉ cần bỏ chút công sức xới đất đổi lấy việc được dùng trâu cày bừa thong dong, cũng cảm thấy mình nhặt được món hời lớn.
Cả đôi bên đều vui vẻ, hoan hỉ vô cùng.
Đám nông phu này đều là những tay làm ruộng lão luyện lâu năm. Thấy Lê Tiếu Tiếu hỏi một câu thì ngớ ra ba câu, hoàn toàn là một tay mơ chẳng biết tí gì về việc đồng áng, ban đầu họ còn lên mặt khoe khoang kinh nghiệm, bụng nghĩ con nha đầu này dễ bị bịp bợm. Nào ngờ khi xắn tay áo bước xuống ruộng của nàng làm việc, họ mới ngã ngửa nhận ra con bé này tuy không am hiểu việc nhà nông nhưng tính khí lại vô cùng bướng bỉnh và có chủ kiến kiên định khác người, tuyệt đối không cho phép ai cãi lời!
Ngay ở bước xới đất đầu tiên, theo thói quen lâu đời của nông dân nơi đây, họ chỉ cày sâu chừng một thước là vừa. Thế nhưng Lê Tiếu Tiếu lại nhất quyết bắt bọn họ phải cày sâu tới tận hai thước!
Độ sâu tăng gấp đôi đồng nghĩa với việc độ khó nhọc khi cày xới tăng lên gấp bội phần, con trâu kéo cày cũng phải gồng mình thở phì phò cực nhọc. Không ít người thấy vậy liền xót con trâu, bèn lên tiếng cản: "Cày sâu một thước là đủ gieo mạ rồi tiểu cô nương ơi, đời cha ông tổ tiên chúng ta bao đời nay đều cày cấy như thế cả mà!"
Lê Tiếu Tiếu lập tức gạt phắt đi: "Bởi vậy nên bao đời nay các bác mới không giải quyết nổi nạn đói kém, mỗi một mẫu đất còm cõi chỉ thu hoạch được hơn một trăm cân thóc đấy thôi! Điều đó chứng tỏ kinh nghiệm cũ của các bác là sai bét, cứ cày sâu hai thước theo đúng lời ta dặn!"
Đám nông phu bị nàng chặn họng một câu không thốt nên lời, đành phải cắn răng gồng mình kéo cày lật sâu tới hai thước đất cho nàng. Mười mẫu ruộng vốn dĩ chỉ cần một ngày rưỡi là xong, nay cày sâu như thế ròng rã gần ba ngày trời mới miễn cưỡng hoàn thành.
Tiết trời cày bừa vụ xuân quý như vàng ngọc, từng canh giờ trôi qua đều vô cùng quý giá. Một số người thấy chờ đợi đến lượt nhà mình mượn trâu lâu quá, đành bấm bụng bỏ cuộc, dắt díu nhau quay về ruộng nhà tự dùng sức người kéo bừa, vung cuốc xới đất.
Dùng sức người cày bừa đương nhiên không tài nào lật sâu nổi hai thước đất, chỉ có thể cào xới được chừng một thước nông choèn. Cày xới xong ruộng nhà mình, nhìn lớp bùn đất nhàn nhạt màu vàng pha xám nâu – thứ đất thịt quen thuộc của ruộng thượng đẳng thường thấy – rồi ngoảnh đầu nhìn lại thửa ruộng của Lê Tiếu Tiếu vừa cày xong đen nhánh, phì nhiêu màu mỡ lạ thường, trong lòng họ bỗng dâng lên nỗi xót xa, tiếc nuối khôn nguôi. Loại đất đen thẫm màu mỡ nhường ấy mới chính là đất quý nuôi dưỡng hoa màu tốt tươi!
Nghiến răng một cái, đám nông phu vừa bỏ đi lại lục tục kéo nhau quay trở lại thửa ruộng của nàng, chẳng ai còn hé răng phàn nàn chuyện cày sâu cuốc bẫm nữa. Trước kia người nghèo không có trâu cày, toàn dựa vào sức người kéo bừa nên chỉ cào được lớp đất mặt một thước nông cạn. Trải qua bao nhiêu năm tháng canh tác cạn kiệt, lớp đất mặt dinh dưỡng sớm đã bạc màu. Nay Lê Tiếu Tiếu kiên quyết cày sâu tới hai thước, lớp đất đen màu mỡ chôn vùi dưới đáy sâu bấy lâu nay rốt cuộc mới được lật tung lên bề mặt!
Đám nông dân dẫu ít học chẳng hiểu nhiều đạo lý sách vở, nhưng chân lý hiển hiện sờ sờ ngay trước mắt lập tức khiến họ vứt bỏ kinh nghiệm thủ cựu ngày xưa, ai nấy đều hăng say vung tay làm việc cuốc đất sâu hơn.
Lê Tiếu Tiếu ngậm một cọng cỏ non nơi khóe miệng, thảnh thơi ngồi vắt vẻo trên con đê đầu bờ ngắm nhìn khung cảnh lao động bừng bừng khí thế trên thửa ruộng của mình. Nàng khẽ quay đầu nhìn xuống bãi bồi ven khúc sông Nguyệt Miêu Loan, nơi những lớp phù sa đen quánh bồi tụ dồi dào, trông vô cùng màu mỡ và giàu dinh dưỡng.
Đợi khi thửa ruộng cày bừa xong xuôi, nàng tính sẽ rủ người xúc lớp phù sa đáy sông này đổ vào ruộng để làm phân bón lót.
Nàng cũng đã dặn trước Sài bá phải gom toàn bộ phân trâu, phân ngựa trong chuồng lại cho nàng làm phân bón. Còn về phần phân người... Nàng khẽ rùng mình một cái, thôi dẹp đi, hôi thối kinh khủng không tài nào chịu nổi!
Trâu ngựa ăn cỏ ăn rơm, mùi phân nàng còn ráng nhịn được; chứ người ăn đủ thứ thịt cá ngũ cốc, mùi xú uế ấy nàng tuyệt đối không dám ngửi.
Sài bá còn cười trêu nàng học đòi kiểu cách tiểu thư, đã chịu đi làm ruộng mà còn chê phân người hôi thối.
Lê Tiếu Tiếu mặc kệ ai cười. Không dùng phân người thì nàng dùng biện pháp khác để bồi đắp độ phì nhiêu cho đất, chẳng hạn như lớp phù sa đen nhánh dưới dòng Nguyệt Miêu Loan kia!
Đường nào chẳng có lối đi.
Hồi còn ở thời mạt thế, nàng từng được học qua về lịch sử phương Đông cổ đại, biết rõ kỹ thuật canh tác thời kỳ này vô cùng lạc hậu, sản lượng lương thực thu hoạch bèo bọt khôn cùng. Nàng muốn thử vận dụng chút hiểu biết nông cạn của mình để làm một thửa ruộng thí nghiệm, xem có thể nâng cao năng suất lương thực lên được hay không.
Dù sao nàng cũng phải sống ở mảnh đất này rất lâu nữa. Nàng không nỡ nhìn cảnh tượng bách tính nơi đây ngày ngày ôm bụng đói cồn cào qua bữa, đặc biệt là hình ảnh ở thôn Diệp Tử năm ngoái: Vợ của thôn trưởng phải cầm chiếc bát mẻ chạy vạy khắp cả làng mới gom đủ chút gạo hẩm rau dại nấu bữa cơm đạm bạc đãi bọn họ. Cảnh tượng xót xa ấy khắc sâu vào tâm trí nàng mãi không thể nào quên.
Giá như những thửa ruộng cằn cỗi kia có thể trồng ra ba bốn trăm cân lương thực mỗi mẫu thì tốt biết bao.
Đó thực ra chỉ là một tiêu chuẩn cực kỳ, cực kỳ khiêm tốn. Trong ký ức của nàng, ở thế giới văn minh sau này từng có một vị đại nông học gia vĩ đại đã nghiên cứu thành công giống lúa lai tạo, giúp nâng năng suất lúa nước trên toàn quốc lên tới hơn một ngàn cân mỗi mẫu! Kẻ dốt nát như nàng đương nhiên chẳng biết làm thế nào để lai tạo giống lúa thần kỳ ấy, nhưng nếu chỉ hạ thấp mục tiêu xuống chừng ba trăm năm mươi cân mỗi mẫu... liệu có khó khăn đến mức không thể với tới hay không?
Nàng cũng chẳng dám chắc chắn mười phần, thôi thì cứ làm thử một phen rồi tính tiếp!
Lại nói về Mạnh huyện lệnh sau khi hay tin có người kinh thành tới, vội vã rảo bước trở về huyện nha. Vừa bước chân vào cửa, ông ngạc nhiên nhận ra người tới chính là Mạnh Văn Lễ – người anh họ con bác thuộc Tam phòng, con trai của Tam lão thái gia.
Mạnh Văn Lễ đã tới được một lúc lâu, Lưu thị dẫn theo Mạnh Lệ Nương ra nghênh tiếp và ngồi trò chuyện hồi lâu.
Đã lâu lắm rồi không được gặp người thân thích từ kinh thành xa xôi lặn lội tới, ngay cả Lưu thị cũng trở nên niềm nở, cởi mở hơn hẳn ngày thường. Ngược lại, Mạnh Văn Lễ nhìn thấy bộ y phục may bằng vải thô mộc mạc trên người Lưu thị, lại nhìn quanh quất gian hậu viện đơn sơ chật hẹp của huyện nha, đến cả chén trà rót nước cũng do Tề ma ma đích thân bưng bê phục vụ, trong lòng ông không khỏi dâng lên niềm xót xa, áy náy.
Tam lão thái gia không ra làm quan mà dựa vào bóng râm quyền thế của hai người anh trai để kinh doanh buôn bán lớn. Mạnh Văn Lễ từ mấy năm trước đã sớm tiếp quản sản nghiệp gia đình, trong tay thứ không thiếu nhất chính là bạc trắng. Nay thấy người em họ dòng thứ bị đuổi ra ở riêng lại phải sống trong cảnh thanh bần, cơ cực nhường này, ông không kìm được bèn lén thò tay nhét thêm một tờ ngân phiếu dày dặn vào chiếc túi gấm mừng gặp mặt trao cho cháu gái Mạnh Lệ Nương.
Bởi vì nơi Mạnh huyện lệnh đi tuần đồng áng cách huyện thành không quá xa, nên sau khi Triệu Kiên chạy đi báo tin chỉ chừng nửa canh giờ ông đã có mặt tại nhà. Vừa nhìn thấy Mạnh Văn Lễ, Mạnh huyện lệnh mừng rỡ cất tiếng chào: "Văn Lễ đường huynh! Hóa ra là huynh đã lặn lội tới đây!"
Mạnh Văn Lễ kinh ngạc đánh giá người em họ hơn một năm trời chưa từng gặp mặt. Tận mắt chứng kiến cảnh huyện Tiết Dương nghèo xơ xác, xa xôi hẻo lánh, ông cứ ngỡ viên quan phụ mẫu Mạnh Anh hẳn phải già nua, tiều tụy lắm. Nào ngờ hình ảnh người em trai thư sinh da trắng nõn nà, khí chất yếu đuối nhát gan trong ký ức đã biến mất hoàn toàn. Đứng trước mặt ông lúc này là một người đàn ông nước da hơi rám nắng, nhưng ánh mắt sáng ngời, thần thái rạng rỡ ngập tràn sinh lực, nhìn vóc dáng thậm chí còn rắn rỏi, vạm vỡ hơn hẳn thời còn làm quan ở kinh thành!
Mạnh Văn Lễ thốt lên đầy ngạc nhiên: "Lạ lùng thật đấy! Nghe thím nó bảo đệ vừa tới đây từng ngã một trận ốm thập tử nhất sinh, vậy mà nay nhìn lại, thân thể đệ trông còn cường tráng, khỏe mạnh hơn trước nhiều phần! Chẳng lẽ phong thổ huyện Tiết Dương này lại bồi bổ con người ta đến thế sao?"
Mạnh huyện lệnh bật cười ha hả sảng khoái: "Nếu đường huynh biết cứ cách hai tháng đệ lại phải trèo đèo lội suối xuống các bản làng xa xôi một lần, trèo hết những ngọn núi mà cả đời này chưa từng trèo qua, ắt huynh sẽ không hỏi câu ấy đâu!"
Từ tiếng cười vang dội của ông, Mạnh Văn Lễ có thể cảm nhận rõ ràng tâm trạng của người em họ này vô cùng nhẹ nhõm, khoáng đạt, không hề vướng bận chút u uất nào trong lòng.
Như vậy kể cũng tốt. Nơi này tuy xa xôi nghèo túng, nhưng dù sao cũng là quan phụ mẫu một phương, mọi việc tự mình định đoạt làm chủ, Mạnh Anh có thể nhìn thoáng được sự đời như thế quả là phúc phận.
Mạnh Văn Lễ ngàn dặm xa xôi từ kinh thành tới đây ắt có chuyện hệ trọng cần bàn bạc. Lưu thị rất biết ý tứ bèn dắt Mạnh Lệ Nương lui xuống hậu viện chuẩn bị cơm nước thết đãi khách quý.
Mạnh huyện lệnh mời Mạnh Văn Lễ vào trong thư phòng, Triệu quản gia dâng trà nóng xong cũng khép cửa lui ra ngoài.
Mạnh Văn Lễ cất tiếng hỏi: "Sao ta không thấy bóng dáng thằng Kỳ ca nhi đâu cả?"
Mạnh huyện lệnh đáp: "Nó đã lên Vạn Sơn thư viện nhập học rồi, vừa qua Tết là lên đường ngay."
Vạn Sơn thư viện sao? Mạnh Văn Lễ đương nhiên cũng từng nghe danh tiếng lẫy lừng của thư viện này: "Chỗ đó tốt hơn phủ học của Lâm An nhiều lắm! Kỳ ca nhi từ nhỏ đã thông minh đĩnh ngộ, nay lại được danh sư rèn giũa, chuyện thi đỗ cử nhân ắt chỉ là ngày một ngày hai."
Mạnh huyện lệnh cảm tạ lời khen ngợi của anh họ. Mạnh Văn Lễ trầm ngâm một lát rồi đi thẳng vào mục đích chuyến đi này: "Bức thư của đệ gửi về kinh bọn ta nhận được trước Tết. Bác cả và cha ta bàn bạc xong xuôi định qua năm mới sẽ phái người tới xử lý cái nhà họ Lục kia. Nào ngờ mùng hai Tết Thái tử điện hạ được cấm quân rầm rộ hộ tống hồi kinh, chúng ta còn chưa kịp hiểu chuyện này dính líu gì tới nhà mình thì trong cung bỗng nhiên rầm rộ đưa ân thưởng tới tấp..."
Ông chẳng thèm giữ thể diện cho Nhị phòng nữa, đem toàn bộ câu chuyện phần thưởng của Thái hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu cùng Thái tử phi vào cửa Mạnh phủ dạo một vòng rồi bị khiêng ngược về cung kể lại tường tận một lượt, cuối cùng chau mày hỏi: "Cả kinh thành đang đồn ầm lên chuyện đệ cứu mạng Thái tử điện hạ, rốt cuộc đầu đuôi sự việc là thế nào?"
Ánh mắt Mạnh huyện lệnh chùng xuống đầy thâm trầm: "Chuyện Thái tử bị ám sát đã truyền khắp kinh thành rồi sao?"
Mạnh Văn Lễ gật đầu: "Truyền khắp nơi rồi! Bệ hạ hạ chỉ nghiêm tra, hiện giờ trong kinh thành lòng người hoang mang, ai nấy đều thầm đoán xem kẻ nào to gan tày trời dám mưu sát Trữ quân. Đệ đã cứu mạng Thái tử, liệu có nắm rõ chân tướng phía sau không?"
Thế nhưng Mạnh huyện lệnh căn bản không hề muốn dính líu vào những cuộc tranh quyền đoạt vị đẫm máu ấy. Ông ở quá xa kinh thành, lỡ miệng nói năng linh tinh rồi lọt vào tai kẻ có tâm truyền về kinh, chọc giận thế lực hắc ám phía sau đến lấy mạng cả nhà thì nguy to. Gia tộc họ Mạnh tuy là thế gia trăm năm, nhưng nước xa không cứu được lửa gần. Để bảo toàn tính mạng cho vợ con, ông làm ra vẻ hoàn toàn mù tịt: "Đệ chỉ biết đám thích khách phục kích Thái tử là binh mã của Lộc Châu Vệ. Đêm hôm ấy bọn chúng đã bị Thanh Châu Vệ bắt sống toàn bộ, giải về kinh thành theo xa giá của Thái tử. Cũng vì biến cố ấy mà huyện nha hy sinh mất năm người nha dịch."
Chuyện lớn như thế giấu làm sao được, Thái tử áp giải một đoàn tù binh phản quân Lộc Châu Vệ về kinh chắc chắn cả kinh thành đều đã hay biết.
Mạnh Văn Lễ quả nhiên đã nắm được tin này, nhưng chỉ nghe lại những điều đã biết từ miệng Mạnh huyện lệnh khiến ông có phần chưa thỏa mãn: "Thế Thái tử làm sao lại chạy tới nhà đệ được? Ngài ấy bị ám sát ngay tại huyện Tiết Dương này à?"
Mạnh huyện lệnh lựa lời tránh nặng tìm nhẹ: "Không phải, Thái tử trên đường đào vong tình cờ gặp Kỳ ca nhi vừa từ Vạn Sơn thư viện trở về nhà. Kỳ ca nhi ngây ngô chẳng biết thân phận ngài ấy nên đưa người về huyện nha tá túc. Ai ngờ ngay đêm hôm đó quân phản loạn Lộc Châu Vệ lần theo dấu vết giết tới cửa."
Mạnh Văn Lễ rơi vào trầm tư suy nghĩ hồi lâu mới hỏi lại: "Theo như lời đệ nói, tất cả chuyện này chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên?"
Mạnh huyện lệnh khẳng định: "Thực sự chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên! Huyện nha chỉ có vỏn vẹn chục tên nha dịch gầy yếu, Lộc Châu Vệ đánh tới thì chúng đệ căn bản không phải đối thủ của chúng. May nhờ có Thanh Châu Vệ kịp thời kéo quân tới giải vây, Thái tử điện hạ mới may mắn thoát khỏi hiểm cảnh."
Hóa ra chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, xem ra công lao của hai cha con Mạnh Anh trong chuyện này cũng chẳng có bao nhiêu!
Mạnh Văn Lễ châm chước một lát mới chậm rãi chuyển lời của Mạnh tộc trưởng: "Vậy đệ cảm thấy, Thái tử điện hạ liệu có khả năng trọng dụng cha con đệ không?"
Mạnh huyện lệnh lập tức đáp thẳng thắn: "Trong cơn nguy khốn ra tay cứu giúp Trữ quân là bổn phận thiêng liêng của kẻ làm thần tử, sao đệ dám ôm ân nghĩa mà đòi báo đáp? Huống hồ người bỏ công sức xương máu nhiều nhất không phải là đệ, mà là các tướng sĩ Thanh Châu Vệ. Thái tử điện hạ niệm tình ngủ nhờ một đêm mà ban thưởng đã là ân điển trời ban ngoài sức tưởng tượng, đệ tuyệt đối không bao giờ dám mượn cớ này để mưu cầu tư lợi."
Trong mắt Mạnh Văn Lễ thoáng qua một tia thất vọng. Thật tiếc quá! Nghe đồn Thiếu chiêm sự Lý Văn Khôi của Đông Cung tử trận, Thái tử lập tức cất nhắc người em trai đang dạy học ở Quốc Tử Giám của ông ta vào làm thuộc quan Đông Cung, một bước bước lên mây xanh.
Tuy nhiên chuyến đi này cũng không hẳn là trắng tay. Tuy Mạnh Anh không vì việc cứu Thái tử mà được thăng quan tiến chức ngay tức khắc, nhưng dẫu sao cũng đã gieo được một mối ân tình sâu đậm với Đông Cung, biết đâu chừng sau này có dịp lại dùng tới.
Hơn nữa trước kia gia tộc họ Mạnh suýt nữa đã vứt bỏ người con thứ này, nghĩ rằng hắn sẽ chôn chân cả đời ở cái huyện nghèo Tiết Dương. Nay có món ân tình cứu mạng Thái tử làm chỗ dựa, biết đâu chừng hắn thực sự có cơ hội được điều động rời khỏi chốn rừng thiêng nước độc này để trở về kinh thành làm quan!
Bình luận0
Chia sẻ cảm nhận của bạn về bộ truyện này
Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.