Xuyên Không Cổ Đại: Thiếu Gia Làm Ruộng, Ấm Áp Điền Viên › Chương 93
Chương 93: Tiếng cười sum vầy, hoài niệm năm xưa
Chương 93· 3.953 từMiễn phí
Chương 93: Tiếng cười sum vầy, hoài niệm năm xưa
Tin tức Lư Khánh nhà Lư Ngũ Trụ còn sống trở về lập tức gây chấn động khắp cả thôn Lư Gia.
Mười mấy năm bặt vô âm tín, ai nấy đều đinh ninh rằng y đã sớm bỏ mình nơi sa trường khói lửa. Dân làng đang quét tuyết, dặm lại mái nhà, chẻ củi, mổ lợn thịt gà đón Tết đều nhất loạt buông hết công việc trong tay, túa ra đường chạy ùa về phía tiệm tạp hóa.
— Nhị Khánh thật sự đã trở về rồi ư?
— Trở về thật rồi! Bằng xương bằng thịt kia kìa!
— Tính ra đi cũng phải ngót nghét bao nhiêu năm rồi nhỉ?
— Mười sáu, mười bảy năm có lẻ chứ ít đâu!
— Đúng rồi, cái dạo y tòng quân lên đường, mẹ thằng Hủ vừa mới cấn bầu thằng bé...
Họ hàng thân thích lũ lượt kéo tới đông nghẹt. Lúc này Lư Hủ đang dẫn đầu một bầy nhóc tì tíu tít phát câu đối đỏ cùng chữ Phúc trước thềm quán tạp hóa, cả nhà họ Lư chìm đắm trong niềm vui sướng và hân hoan tột cùng.
Lư Hủ cùng Lư Chu hò nhau khiêng chiếc thùng tắm bằng gỗ lớn tới. Ông bà nội cùng Tam thúc, Tứ thúc vội vã đun một nồi nước lá ngải cứu thơm nồng đưa Nhị thúc vào buồng tắm gội, gột rửa sạch sẽ bao phong trần sương gió nơi biên ải. Trong nhà tiếng khóc tiếng cười rộn rã đan xen, hỗn loạn một hồi. Thấy mình ở trong chẳng giúp được gì nhiều, Lư Hủ dứt khoát bảo Lư Chu chạy về nhà gọi Nhan Quân Tề sang đây tiếp tục viết câu đối Tết cho bà con.
Hắn bàn giao sạp hàng tạp hóa lại cho Lư Hiên và Hàn Lộ trông nom, rồi dắt díu đàn em chạy về gom hết ba cuộn giấy đỏ lớn, mang theo nghiên mực, bút lông hăm hở quay trở lại.
Lư Hủ khuân một chiếc bàn dài kê ngay trước hiên quán, bưng ra một thau kẹo hạt dưa lớn để bà con nhâm nhi miễn phí. Ai ăn xong hạt dưa cũng đều được nhận câu đối đỏ mang về.
Nhan Quân Tề ngồi bên tay trái hắn phóng bút, Lư Chu ngồi bên tay phải nắn nót viết từng nét chữ. Ngoài chữ “Phúc” cát tường, Lư Hủ còn bảo các đệ đệ viết thêm những chữ “Bình An”, “Đoàn Viên”.
Ngay cả bé Lạp Nguyệt và Tiểu Mãn cũng hào hứng nhoài người lên mép bàn tập tô tập viết.
Các cô các bác, các chú các thím trong thôn ai muốn viết chữ gì đều có thể chỉ định đám nhóc tì viết tặng.
Bà con rảnh rỗi việc nhà đều xúm đông xúm đỏ lại xem náo nhiệt:
— Nét chữ của Nhan thư lang đẹp quá, trông vừa thanh thoát lại ngay ngắn thẳng hàng!
— Chữ của Tiểu Chu viết cũng ra dáng lắm đấy chứ!
— Lạp Nguyệt ơi, con viết hình thù gì ngộ nghĩnh thế này?
— Chữ này đọc là gì hả các cháu?
— Tiểu Chu, viết cho chú chữ “Phong Thu” nhé!
— Cho thím chữ “Phát Tài” nào!
— Nhan thư lang ơi, sang năm nhà ta sắp đón thêm cháu nhỏ, cháu xem nên viết chữ gì cho cát lành?
Bên cạnh người lớn vây quanh Nhan Quân Tề và Lư Chu xin chữ, lũ trẻ con trong làng cũng tíu tít chạy tới nhờ Lạp Nguyệt và Tiểu Mãn viết hộ, nhất là đám bé gái hay chơi cùng nhau. Chỉ một loáng sau, trên mặt bàn đã la liệt những mẩu giấy đỏ xinh xắn mang những từ ngữ ngọt ngào con trẻ: “Xinh đẹp”, “Khéo tay”, “Dịu dàng”, “Tỷ tỷ tốt”...
Chẳng mấy chốc, có vài cô bé khéo tay còn mang kéo ra tỉ mẩn cắt hoa giấy trang trí. Bất kể đường kéo vụng về hay tinh xảo, Lư Hủ đều hết lời khen ngợi không tiếc lời. Hắn chẳng hề tiếc vài mảnh giấy đỏ vụn, trái lại còn nhiệt tình khuyến khích các cô bé cắt thêm thật nhiều hình thù may mắn: nào là trâu, ngựa, cún con, thỏ trắng, bông lúa trĩu hạt, kho thóc đầy ắp, thỏi vàng lấp lánh, hoa lá quả tươi... cắt được thứ gì là cắt thứ nấy.
Bên ngoài đang rộn rã tưng bừng thì cánh cửa gỗ mở ra, Lư Khánh trong bộ y phục sạch sẽ tươm tất bước ra hiên.
Bà con lối xóm lập tức rào rào ùa lại vây quanh, tíu tít hỏi han ân cần. Những nhà có con em từng tòng quân cùng đợt năm xưa liền níu chặt lấy cánh tay y, nghẹn ngào dò hỏi xem trượng phu hay con cái mình liệu có còn sống sót nơi tiền tuyến.
Lư Khánh bùi ngùi đáp:
— Năm ấy vừa đặt chân lên đất Bắc chưa được bao lâu thì doanh trại chúng tôi đã bị quân địch đánh tan tác. Tôi cùng anh Cối Xay bị điều động sang mạn phía tây, sau đó hai anh em cũng lạc mất nhau giữa làn tên mũi đạn. Đến nay họ còn hay mất, phiêu bạt phương nào, thực tình tôi cũng không rõ...
Dẫu đã chuẩn bị sẵn tâm lý từ trước, mọi người nghe xong vẫn không khỏi bùi ngùi xót xa, không ít người kìm lòng không đặng mà rơi nước mắt.
Lý Chính bước tới vỗ nhẹ lên vai y:
— Trở về bình an là tốt rồi, sống sót trở về chốn này là quý hóa lắm rồi! Ngần ấy năm ròng rã nơi đầu sóng ngọn gió... con đã vất vả nhiều rồi!
Đoạn ông quay sang khoát tay trấn an bà con:
— Thôi nào, mọi người đừng khóc nữa! Nhị Khánh trở về được thì biết đâu những người khác ít lâu nữa cũng sẽ lần lượt tìm về. Ngày Tết ngày nhất đến nơi rồi, vui vẻ lên một chút! Ai nấy phải phấn khởi lên chứ! Thôi được rồi, để Nhị Khánh vào nhà nghỉ ngơi lại sức đã, có chuyện gì thì ngày mai hẵng sang hàn huyên tiếp. Ai nhận xong câu đối Tết thì mau chóng mang về nhà dán lên cửa đi nào. Này, mấy đứa nhóc kia, cầm mấy bức chữ này đem dán lên cây cổ thụ đầu làng, mấy bức kia dán lên tường gạch phía đông nhé!
Lý Chính thoăn thoắt phân công đám trai tráng trong làng làm việc, bỗng nhiên chiếc mũi ông khẽ chun lại:
— Nhà ai đang kho thịt mà để cháy khét lẹt thế này?
Một thím đang đứng cắn hạt dưa nghe vậy liền “Ối giời ơi” một tiếng, vỗ đùi đánh đét rồi vứt cả nắm hạt dưa vắt chân lên cổ chạy biến:
— Nồi thịt kho của tôi ơi!
Cả đám đông cười ồ lên nghiêng ngả.
Lư Hủ giao lại việc phát câu đối cho Lư Văn và Lư Huy, còn mình thì cùng Lư Hiên sang nhà thợ mổ mua thịt lợn. Nào ngờ Lư Văn đang nấp sau bàn nghe thấy, lập tức nhảy chồm chồm đòi bám càng theo:
— Đại ca, Tam ca đợi đệ với! Cho đệ đi cùng!
Lư Hủ cùng Lư Hiên đưa mắt nhìn nhau, đồng loạt cười gian một tiếng rồi cất bước chạy biến:
— Đệ cứ ở lại mà thân mật, trò chuyện với Nhị thúc của đệ đi nhé!
Ai bảo ngày trước thằng nhóc này ngày nào cũng vênh mặt lên rêu rao: “Cha ta là Nhị bá, có giỏi thì các ngươi đi mà tìm cha ta!”, giờ thì quả báo nhãn tiền đến rồi đấy!
Cứ chờ xem, bà con trong làng đang xếp hàng dài chờ tìm “cha” của nó để mách tội nghịch ngợm ngày bé kia kìa!
Lư Hủ chạy đến nhà bác thợ mổ thì thấy bác ta vẫn đang đứng mê mẩn ngắm nghía câu đối trước cửa tiệm nhà mình. Hai anh em đứng trước phản thịt lợn chọn lựa một hồi, bác thợ mổ mới hớn hở cầm ba bức câu đối cùng mấy tờ chữ đỏ bước về nhà. Tờ chữ trên cùng vừa nhìn đã nhận ra nét bút ngay ngắn thẳng tắp của Lư Chu, nét mực cứng cáp rõ ràng, viết năm chữ: “Đao khoái nhân bình an” (Dao sắc người bình an).
Lư Hủ nhìn thấy mà ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Ông nội trước đó đã dặn đặt một chiếc chân giò lớn để ninh đậu phụ đông tết cho lũ trẻ. Lư Hủ nhìn thấy chiếc chân giò nguyên vẹn bèn hào phóng mua trọn cả bốn chiếc móng giò, lại mua thêm thịt ba chỉ, lòng dồi, tiết lợn, thậm chí khuân luôn cả chiếc đầu lợn béo núc ních mang về.
Bà nội Lư trước giờ vốn tính chắt chiu tiết kiệm, vậy mà trông thấy chiếc đầu lợn lớn lại tấm tắc khen ngợi, liền giục ông nội xắn tay áo giúp Lư Hủ làm sạch lông, ninh nhừ một nồi để dâng lên bàn thờ tổ tiên tạ ơn phù hộ độ trì cho con cháu bình an.
Bếp lửa nhà họ Lư bùng cháy rực rỡ. Lư Hủ chỉ huy đàn em: đứa rửa rau, đứa thái thịt, còn hắn thì chạy vội về nhà vác thêm chiếc chảo sắt lớn sang gian bếp nhà Tứ thúc.
Mấy người phụ nữ trong nhà rộn rã băm nhân thịt, nhào bột, gói những mẻ sủi cảo trắng nõn để làm tiệc tẩy trần, chúc mừng Nhị thúc bình an trở về.
Ninh thịt, hầm móng giò, kho đầu lợn, xào lòng mề... Lư Hủ thoăn thoắt chạy qua chạy lại giữa mấy miệng lò bận rộn không ngơi tay.
Hôm nay Lư Văn bỗng ngoan ngoãn lạ thường. Bảo bóc tỏi là cặm cụi bóc tỏi, bảo chẻ củi là cầm rìu chẻ củi, cứ lẽo đẽo bám sát sau lưng Lư Huy như một cái đuôi nhỏ, chẳng dám lảng vảng lại gần gian nhà trên.
Tam thúc, Tứ thúc cùng Nhị thúc ngồi quây quần bên bếp lò đượm than trò chuyện rôm rả, bùi ngùi khỏa lấp khoảng trống mười mấy năm xa cách.
Biết tin đại ca Lư Cát đã qua đời vì bạo bệnh, Nhị thúc trầm mặc hồi lâu, ánh mắt đượm vẻ xót xa khôn xiết.
Y cùng Lư Cát chỉ cách nhau hơn một tuổi, tình cảm huynh đệ sâu nặng nhất nhà. Nào ngờ một lần chia tay nơi cổng làng thuở ấy, nay lại hóa thành sinh ly tử biệt muôn đời.
— Sau khi chị dâu cả sinh thằng Tiểu Chu thì qua đời, đại ca mới tục huyền với đại tẩu bây giờ. Hai đứa nhóc kia là con của đại tẩu sinh sau này, con bé lớn tên là Lạp Nguyệt, thằng út tên là Lư Duệ. — Tam thúc đưa tay chỉ cho Nhị thúc nhìn.
Nhị thúc đưa mắt nhìn sang, thấy nhóc Lư Duệ đang đứng tựa vào chân Lư Hủ, hai tay níu chặt ống quần anh trai nghển cổ dòm vào nồi thịt kho đang sôi lục bục. Lư Hủ vừa nêm nếm gia vị vừa cúi đầu nhắc nhở:
— Đứng lùi ra xa một chút, coi chừng mỡ bắn bỏng người bây giờ.
Lư Duệ liền há to miệng:
— A!
— Thịt chưa ngấm vị đâu mà đòi ăn!
Thằng bé lại nhích thêm một bước, phụng phịu:
— A!
Lư Hủ bật cười, lấy đũa gắp một miếng thịt đã ninh mềm ra, thổi cho nguội bớt rồi đặt vào chiếc bát con:
— Mang sang nhờ tỷ tỷ đút cho ăn, bảo tỷ ấy thổi cho nguội kẻo bỏng miệng nhé.
Lư Duệ gật đầu lia lịa, hai tay bưng chặt bát con, lon ton bước những bước chân ngắn củn chạy sang chỗ Lạp Nguyệt và Lư Phúc:
— Tỷ tỷ, phù phù!
Nhị thúc mỉm cười hiền từ:
— Nhìn mấy anh em chúng nó hòa thuận, thương yêu nhau thật đấy.
Tam thúc cũng cười đầy tự hào:
— Tốt lắm chú à. Thằng Hủ tháo vát và bản lĩnh lắm, đại ca mất đi, mọi gánh nặng trong nhà đều trút lên vai nó. Giờ đây nó mở tiệm ăn trên huyện thành, lại còn liên kết hùn vốn làm ăn lớn với người ta. Quầy tạp hóa của nhà mình cũng là do một tay nó bày vẽ ra đấy.
Nhị thúc khẽ gật đầu:
— Tính tình nó giống hệt đại ca năm xưa.
Tứ thúc buông tiếng thở dài cảm thán:
— Đúng thế đấy, tướng mạo giống mà tính nết cũng hệt như đúc, một lòng một dạ lo toan cho cả một bầy em nhỏ.
Mấy anh em im lặng giây lát trong nỗi niềm hoài niệm. Tam thúc liền chủ động đổi đề tài:
— Thằng nhóc kia là con út nhà anh, tên Lư Phúc. Còn đứa cao lớn đằng kia là thằng cả nhà anh, tên Lư Huy, trong đám con cháu đời này nó đứng hàng thứ hai. Đợt vừa rồi nó cũng mới từ ải Sóc Châu trở về đấy, may nhờ thằng Hủ nhanh nhạy nhờ vả người ta nâng đỡ, lại thêm phúc tổ che chở nên nó không phải ra trận giáp hạt chém giết, chỉ làm chân chăn nuôi gia súc vận chuyển lương thảo ngoài doanh trại thôi...
Tam thúc cùng Tứ thúc lần lượt giới thiệu từng đứa trẻ trong nhà. Vẻ mặt uy nghiêm của người lính trận trên gương mặt Lư Khánh dần dần giãn ra, ánh mắt nhìn đàn cháu nhỏ tung tăng khắp sân ngập tràn vẻ dịu dàng, ấm áp.
Bao nhiêu gian khổ, đói rét, bao lần tắm máu nơi chiến trường khốc liệt... dường như vào khoảnh khắc này đều trở nên vô cùng xứng đáng.
Tam thúc ngó nghiêng một vòng:
— Ủa, thằng Tiểu Văn đâu rồi nhỉ?
Tứ thúc đưa mắt nhìn quanh sân, thấy con cháu đông đủ chỉ thiếu mỗi bóng dáng Lư Văn, không kìm được bật cười khúc khích, lập tức hào hứng đem toàn bộ chiến tích nghịch ngợm “oanh liệt” của thằng nhóc từ bé đến lớn ra kể sạch sành sanh cho anh hai nghe.
— Giờ nó chính là con trai trên danh nghĩa của anh đấy, Nhị ca! Anh phải kèm cặp uốn nắn nó cho thật nghiêm vào!
Nhị thúc dở khóc dở cười. Lão Tứ nhà này tính nết vẫn y hệt như hồi còn con nít, cứ hễ thấy chuyện vui là lại nhảy vào châm chọc góp vui, chẳng hề thay đổi:
— Ta đã bình an trở về rồi, làm gì còn đạo lý bắt con cháu người ta quá kế cho mình nữa. Đừng làm khó cho thằng bé và thím nó.
Tam thúc bèn vung tay tét nhẹ vào sau gáy Tứ thúc một cái.
Tứ thúc xoa xoa gáy cười hì hì:
— Nhị ca, sắp tới anh có dự định thế nào cho tương lai chưa?
Nhị thúc đáp:
— Triều đình có cấp cho ta một khoản ngân lượng trợ cấp giải ngũ, chuyện ấy cứ thong thả tính sau.
— Vậy còn... — Tứ thúc hơi ngập ngừng, đưa mắt nhìn Tam thúc dò xét, rồi ngập ngừng cất lời: — Huệ Hương tỷ... tỷ ấy cũng đã xuất giá lấy chồng nhiều năm rồi, anh...
Nét mặt Nhị thúc không có nhiều gợn sóng, giọng nói bình thản:
— Như vậy là tốt rồi, ta không làm lỡ dở cả đời người con gái... Nàng ấy gả về đâu?
Tứ thúc đáp:
— Về trấn Nam Kiều.
Nhị thúc khẽ gật đầu:
— Cũng không quá xa xôi.
Tam thúc và Tứ thúc nhìn nhau thở dài một tiếng, không ai nỡ nhắc thêm lời nào nữa.
Nhị thúc im lặng một chốc, rồi chống gối đứng dậy:
— Ta muốn lên núi thăm đại ca một chuyến.
Tam thúc ngớ người ra:
— Chú đi ngần ấy năm làm sao biết mộ đại ca ở chỗ nào, để anh gọi đứa dẫn đường cho chú. — Nói rồi Tam thúc hướng ra sân quát to: — Lư Văn! Thằng Lư Văn đâu rồi!
Lư Huy đứng gần đó nghe thấy, liền đưa tay huých nhẹ vào người Lư Văn đang nép sau đống củi:
— Cha gọi đệ kìa.
Lư Văn phụng phịu phủi sạch đất cát trên ống quần rồi lồm cồm bò dậy, mặt mày méo mó lê từng bước chân nặng trịch bước lại gần, lí nhí cất tiếng:
— Tứ thúc...
Nhìn thấy hai người cha đang ngồi cạnh nhau, từ “cha” nghẹn lại nơi cuống họng mấy lần mà chẳng dám thốt ra.
Tam thúc giơ chân đá nhẹ vào mông nó:
— Nhị bá của mày muốn lên núi thăm mộ đại bá, mày mau dẫn đường cho bác ấy đi nhận mặt phần mộ!
Lư Văn đứng sững người ngẫm nghĩ một thoáng, rồi lập tức tươi như hoa nở sau mưa, mừng rỡ reo to:
— Vâng ạ! Nhị bá để con dẫn đường cho bác! Bác về rồi phải tâm sự với đại bá thật nhiều nhé, để con đi lấy đồ cúng tế và hương nến!
Thằng nhóc reo hò một tiếng rồi co giò chạy biến sang gian bếp, lao thẳng tới chỗ mẹ nó:
— Nương ơi! Nhị bá muốn lên núi viếng mộ đại bá, nương mau tìm cho con ít hương nến với tiền vàng đi nào!
Cả nhà bị tiếng la hét thất thanh của nó làm cho giật nảy mình.
Ba anh em Lư Khánh nhìn nhau lắc đầu cười trừ, cái tính khí ranh mãnh láu cá này quả thực Tứ thúc không hề nói oan cho nó nửa lời.
Tuyết trên núi vẫn chưa tan hết. Nhị thúc không cho người lớn đi theo, chỉ để Lư Văn xách theo đĩa thức ăn Lư Hủ vừa làm nóng hổi, kèm mấy chiếc màn thầu trắng và bình rượu nếp, tay cầm hương nến cùng nhau trèo lên dốc núi.
Lư Văn vừa bò bằng cả hai tay hai chân lên dốc vừa luyên thuyên bắt chuyện:
— Nhị bá ơi, ở trong quân ngũ có khổ lắm không bác?
— Cũng tàm tạm.
— Ngần ấy năm bác không tìm cho con một người bá mẫu nào sao?
— Bác đi tòng quân đánh giặc chứ có phải đi dạo chơi đâu.
— Cũng đúng nhỉ... — Lư Văn liền tỏ vẻ người lớn quan tâm đến đại sự cả đời của Nhị thúc: — Nhị bá này, giờ bác đã trở về làng rồi, chi bằng nhân lúc nông nhàn này bác mau chóng cưới một người vợ đi thôi!
Nhị thúc lặng lẽ ngắm nhìn khung cảnh núi non quen thuộc trước mắt, đắm chìm trong dòng hồi ức xưa cũ, chẳng buồn đáp lời.
Lư Văn vẫn liến thoắng không ngớt miệng:
— Bác thích mẫu người thế nào? Con quen biết nhiều người trên huyện lắm đấy, đại ca con cũng có thể giúp bác dò la mối tốt!
Lư Khánh nhàn nhạt:
— Không vội, chuyện đó để sau hãy tính.
Lư Văn sốt ruột:
— Sao lại không vội được cơ chứ! Bác nhìn đại bá, cha con với Tứ thúc xem, ai nấy đều con đàn cháu đống cả rồi. Bác cũng phải nhanh chóng cưới vợ đẻ một đứa em bé, có như thế cha con mới không suốt ngày nhắc chuyện quá kế con cho bác nữa, mà ông bà nội cũng đỡ sốt ruột lo toan!
Nhị thúc bật cười nhìn nó:
— Bác nghe nói trước đây cứ gặp người ngoài là con lại bô bô khoe mình là con trai của bác, sao giờ bác về thật rồi con lại giãy nảy lên không chịu thế?
Lư Văn cười gãi đầu gãi tai xấu hổ:
— Dạ... cái đó là do hồi bé con dại dột chưa hiểu chuyện... hì hì hì... Nhị bá này, nếu bác chưa muốn thành thân ngay thì cũng không sao cả, chuyện này không việc gì phải gấp gáp. Gia cảnh nhà mình giờ khấm khá lắm rồi, trước tiên cứ dựng một căn nhà ngói thật to đẹp đã, rồi từ từ kén chọn sau! Bằng không thì vẫn còn thằng Lư Duệ kia kìa, đại ca bảo sau này đem Lư Duệ quá kế sang cho bác đấy!
Lư Khánh bật cười ha hả. Thằng nhóc ranh ma này quả thực chẳng có chút điểm nào giống với tính khí bộc trực của cha nó cả.
Gió trên đỉnh núi thổi buốt giá, Lư Văn lạnh đến mức hai cánh mũi đỏ ửng. Lư Khánh thắp hương rót rượu vái lạy trước mộ đại ca một hồi rồi giục Lư Văn mau chóng xuống núi kẻo cảm lạnh.
Đường xuống núi đóng băng trơn tuột, Lư Văn trượt chân loạng choạng suýt ngã mấy lần, miệng vẫn không chịu ngừng:
— Nhị bá, sao bác không nói chuyện với đại bá lâu thêm một chút? Sao nãy giờ đứng trước mộ bác chẳng nói câu nào thế?
Lư Khánh một tay túm chặt lấy cổ áo sau của thằng bé, đề phòng nó trượt chân lăn lông lốc xuống sườn dốc:
— Nhìn đường đi.
Lư Văn phụng phịu:
— Con biết tỏng rồi nhé, chắc chắn là bác muốn đợi hôm nào rảnh rỗi lên đây một mình để thì thầm tâm sự riêng với đại bá chứ gì!
Lư Khánh dọa:
— Bác buông tay ra đấy nhé.
Lư Văn hốt hoảng kêu to:
— Đừng đừng đừng! Bác nắm chặt vào!
Nó đành phải co người bước rụt rè từng bước một. Khó khăn lắm mới lết được xuống tới chân núi, thằng nhóc liền vội vã phủi sạch tuyết bám đầy trên vạt áo, đoạn ngước nhìn sang Nhị thúc thì thấy người bác vẫn sạch sẽ tinh tươm, đến cả mũi giày cũng chẳng vương chút tuyết nào.
Lư Văn lập tức tuôn ra một tràng nịnh nọt khen ngợi không tiếc lời. Hai người rảo bước đi về, tình cờ gặp một bà lão sống ở xóm dưới chân núi đang lom khom gánh nước, Lư Văn liền cất tiếng chào:
— Cháu chào Triệu nãi nãi ạ!
Bà lão ngước lên gật đầu:
— Hai bác cháu lên núi về đấy à?
Lư Văn đáp:
— Dạ, con dẫn Nhị bá lên viếng mộ đại bá con ạ.
Bà lão khẽ gật đầu, thở dài:
— Trời lạnh giá lắm, mau về nhà sưởi ấm đi con!
Lư Văn vâng dạ cất bước đi trước một đoạn, nhưng mãi không thấy Nhị thúc đuổi kịp theo sau. Thằng bé tò mò quay đầu nhìn lại, chỉ thấy Nhị thúc đã đỡ lấy đôi thùng nước trên vai Triệu nãi nãi, một tay xách nước một tay cẩn thận dìu bà lão bước vào trong sân.
Từ đằng xa nhìn lại, Lư Văn lờ mờ thấy Triệu nãi nãi run run đưa vạt áo lên lau nước mắt, nghẹn ngào thốt lên từng tiếng xót xa:
— Con trở về muộn quá rồi... muộn quá rồi con ơi...
Bình luận0
Chia sẻ cảm nhận của bạn về bộ truyện này
Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.