Xuyên Cổ Đại Làm Thầy, Học Trò Run Rẩy › Chương 60
Chương 60: Viên Sơn Học Xã
Chương 60· 3.480 từMiễn phí
Chương 60: Viên Sơn Học Xã
Trên chiếc bàn đá tròn giữa Bích Lam Đình bày biện mấy đĩa thức ăn thanh đạm. Vì quy định ngặt nghèo của Huyện Học nghiêm cấm học trò uống rượu, nên trong chén của mọi người đều chỉ rót nước trà và nước lọc thanh khiết.
Một nhóm gồm tám người quây quần, bao gồm: Giang Hoài, Chu Thừa Viễn, Lạc Ứng Thư, Đổng Tề Tài, Phương Tấn Dương, Trần Tử Phương, Trương Văn Hải và Sở Từ. Mọi người ngồi quanh bàn đá, lấy nước thay rượu, nâng chén đối ẩm trò chuyện vô cùng rôm rả, hòa hợp.
Giang Hoài, Chu Thừa Viễn và Lạc Ứng Thư trước đây từng có dịp tiếp xúc qua lại với Sở Từ, trong lòng vốn rất mực trân trọng nhân cách cũng như tài học của hắn. Riêng Đổng Tề Tài là do Lạc Ứng Thư rủ đi cùng, vì chưa quen thân với mọi người nên dáng vẻ có phần hơi câu nệ, rụt rè.
"Các vị đồng môn, hôm nay huynh đệ chúng ta tụ họp tại đây để khởi xướng lập xã, tạm thời trước mắt gồm có tám người chúng ta. Vậy thì, ai sẽ là người đứng ra đặt tên cho học xã của chúng ta đây?" Trần Tử Phương lên tiếng hỏi. Bởi vì ý tưởng lập hội này vốn do một tay hắn khởi xướng, nên lẽ dĩ nhiên hắn đứng ra làm người chủ trì điều phối buổi gặp mặt.
Trần Tử Phương trước đây từng theo học nhiều năm trên phủ thành, nơi ấy các văn xã, học xã mọc lên như nấm sau mưa, những người cùng sinh hoạt trong một học xã thường có mối quan hệ gắn bó thân thiết và hỗ trợ lẫn nhau vượt trội hơn hẳn người ngoài.
Thuở mới chân ướt chân ráo về Huyện Học Viên Sơn, thấy nơi đây chưa từng có ai đứng ra lập học xã, trong lòng hắn đã sớm ấp ủ dự định này. Chỉ hiềm nỗi ban đầu quen biết chưa được bao nhiêu người, nay nhân duyên hội tụ vừa vặn tập hợp đủ những gương mặt ưu tú xuất sắc nhất, hắn mới chính thức đưa ý tưởng ra bàn bạc.
"Hay là... gọi phái đoàn chúng ta là 'Tài Tử Xã' đi? Các huynh xem, chúng ta ai nấy đều là tài tử vang danh một vùng, mai này bước chân ra ngoài xưng danh nghe chẳng phải khiến thiên hạ ngưỡng mộ lác mắt sao?" Trương Văn Hải hào hứng đề xuất.
Vừa nghe xong cái tên ấy, cả bảy người còn lại đều đồng loạt lộ ra vẻ mặt dở khóc dở cười, bất lực không nỡ nhìn. Đội cái tên sến sẩm trơ trẽn ấy lên đầu thì bọn họ thà trùm chăn ở lì trong phòng chứ mặt mũi nào mà bước chân ra đường nữa!
"Không được sao? Đệ thấy nghe kêu đấy chứ bộ." Cậu ta quay sang nhìn Sở Từ với ánh mắt đầy mong đợi, hy vọng Sở Từ sẽ đứng về phe mình ủng hộ.
"Haha... Chúng ta cứ lắng nghe thêm ý kiến của các huynh đài khác xem sao đã." Sở Từ khéo léo né tránh ánh mắt tha thiết ấy, mỉm cười quay sang nhìn những người xung quanh.
Trong thoáng chốc, mọi người thi nhau bàn tán sôi nổi, người đề xuất tên này kẻ đưa ra tên nọ, nhưng rốt cuộc chẳng cái tên nào đạt được sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả. Cuối cùng, Phương Tấn Dương mới chậm rãi lên tiếng: "Chi bằng chúng ta cứ lấy tên là 'Viên Sơn Học Xã' cho rồi, mấy cái tên kia nghe hoa mỹ quá mức, phức tạp vô cùng."
"Phải đấy! Đặt tên như thế người ngoài vừa nghe qua là biết ngay chúng ta xuất thân từ chốn nào, ngắn gọn, súc tích, mộc mạc mà rõ ràng, rất được đấy chứ!" Trương Văn Hải lập tức đổi phe gật đầu tán thưởng.
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, thầm nhẩm đi nhẩm lại cái tên ấy trong miệng vài lần. Nghĩ tới nghĩ lui cũng chẳng tìm ra cái tên nào thỏa đáng hơn, bèn đồng thanh nhất trí lấy tên là Viên Sơn Học Xã.
Sở Từ bỗng nhiên nhớ tới một câu khẩu hiệu quen thuộc kiếp trước, liền mỉm cười nhìn mọi người nói: "Hôm nay chúng ta lấy Viên Sơn làm vinh, ngày mai Viên Sơn sẽ lấy chúng ta làm niềm tự hào!"
Một câu nói thốt ra như luồng điện chạy dọc sống lưng, khơi dậy bầu nhiệt huyết sục sôi trong lồng ngực của từng người! Mọi người càng ngẫm nghĩ lại càng thấy cái tên giản dị ấy mang một sức nặng và ý nghĩa lớn lao khôn cùng.
"Được lắm! Vậy chúng ta chính thức ấn định danh xưng 'Viên Sơn Học Xã'! Đã có học xã thì cần phải bầu ra một vị xã trưởng cùng một vị phó xã trưởng để đứng mũi chịu sào. Ai sẽ đảm nhận chức vị xã trưởng đây?"
"Đã là ý tưởng do Trần huynh khởi xướng, hay là chức xã trưởng này cứ để Trần huynh gánh vác đi. Sau này khi nào tổ chức họp xã hay thảo luận đề tài, tất cả chúng ta đều nghe theo sự điều động của huynh." Giang Hoài lên tiếng đề cử.
Trần Tử Phương khẽ mỉm cười đầy bí hiểm, xua tay bảo: "Nếu các vị nhường cho ta chức vị phó xã trưởng thì ta xin không dám từ chối mà vui vẻ nhận lời. Nhưng riêng chiếc ghế xã trưởng đứng đầu này, trong lòng ta vốn đã có một nhân tuyển thích hợp hơn gấp bội phần."
Mọi người đưa mắt nhìn nhau một lượt, rồi như có sự ăn ý ngầm từ trước, tất cả đồng loạt chuyển hướng ánh mắt dồn về phía Sở Từ.
"Khoan đã... Hôm nay buổi họp đầu tiên mà ta lại tới muộn, chiếc ghế xã trưởng trọng trách nhường này e rằng..." Sở Từ vội vàng xua tay thoái thác.
"Ấy, Sở huynh hà tất phải khiêm tốn từ chối làm chi! Cổ nhân dạy 'nhân vô thập toàn', ai mà chẳng có lúc lỡ dở việc riêng, lần sau sửa đổi là được mà. Chiếc ghế xã trưởng này kính thỉnh Sở huynh hãy nhận lấy cho anh em an lòng!"
"Đúng đấy! Nếu ngay cả bậc tài đức vẹn toàn được triều đình ban tặng biển vàng 'Hiền Lương Phương Chính' như Sở huynh mà còn không xứng đáng làm xã trưởng, thì đám người bọn ta làm sao dám mặt dày ngồi lên chiếc ghế ấy chứ? Sở huynh, huynh mau nhận lời đi thôi!"
Sở Từ còn định mở miệng chối từ thêm vài câu, nhưng đã bị đám người ngồi bên cạnh xúm lại ấn chặt hai vai ngồi yên xuống ghế đá. Bất đắc dĩ, hắn đành phải mỉm cười chắp tay nhận lấy trọng trách này.
Sau khi ban điều hành và thành viên của Viên Sơn Học Xã đã được định hình xong xuôi, mọi người liền lập tức bắt tay vào thảo luận chuyên môn cho đề bài đầu tiên của buổi họp mặt.
Đề tài lần này do chính Trương Văn Hải cung cấp. Ban chiều khi cậu ta lật giở cuốn sách tổng hợp các bài văn mẫu mượn được từ Tàng Thư Lâu, nhìn thấy ngay trang đầu tiên là một đề thi trích từ Tứ Thư của kỳ thi Hội năm Canh Dần: "Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ" *(Cẩn thận việc tang ma cha mẹ lúc lâm chung, thành kính tưởng nhớ tổ tiên xa xôi, thì phong tục đức độ của dân chúng sẽ tự nhiên thuần hậu)*.
Bởi vì ấn tượng với câu văn này khá sâu sắc nên cậu ta liền đưa ra làm đề tài mở màn, mọi người đều gật đầu tán thành lựa chọn.
"Thận chung" có nghĩa là cẩn trọng, chu đáo lo liệu việc tang ma cho cha mẹ lúc qua đời; còn "truy viễn" nghĩa là hết lòng tôn kính, tưởng nhớ công ơn của các bậc tổ tiên xa xưa. Nếu người dân trong một nước đều giữ vững được đạo hiếu ấy thì phong tục tập quán và đạo đức của bách tính ắt sẽ chất phác, đôn hậu, đất nước thái bình.
Muốn phá đề một câu trích từ Tứ Thư, trước tiên người viết phải dẫn dắt khéo léo dựa trên nguyên văn kinh điển hoặc dựa theo lời chú giải của các bậc đại nho như Chu Hi.
Giang Hoài là người đầu tiên cất tiếng phá đề: "Bách thiện hiếu vi tiên dã." *(Trong trăm điều thiện, chữ hiếu đứng đầu)*. Liền sau đó, Chu Thừa Viễn cũng tiếp lời: "Hiếu kính chi tâm, bất khả hoặc khuyết." *(Tấm lòng hiếu kính, tuyệt đối không thể thiếu vắng)*.
Chỉ cần nghe qua cách phá đề chớp nhoáng của từng người là đủ thấy trình độ học vấn của các thành viên trong hội đều vô cùng vững vàng, sự am hiểu đối với kinh văn đạt tới độ vô cùng sâu sắc, nghe một câu trích ngắn ngủi là có thể lập tức tìm ra mạch nguồn tư tưởng.
Sở Từ trầm ngâm nhấp một ngụm trà, sau đó chậm rãi cất giọng: "Thận chung giả, tang tận kỳ lễ; truy viễn giả, tế tận kỳ thành dã." *(Thận chung là lo việc tang ma hết lễ tiết; truy viễn là cúng tế tổ tiên bằng trọn vẹn lòng thành)*.
Lạc Ứng Thư vỗ đùi cái đôm đốp, lớn tiếng khen ngợi: "Không hổ danh là Sở huynh! Hay cho một câu 'tang tận kỳ lễ, tế tận kỳ thành'! Câu phá đề này quả thực xuất thần nhập hóa, vừa bám sát theo mạch đề bài, vừa giải nghĩa thấu triệt tận gốc rễ vấn đề, lại tuyệt đối không hề rơi vào khuôn sáo sáo rỗng mòn vẹt của thói thường! Chúng ta nhất định phải dùng câu này làm câu mở màn!"
Lời vừa dứt, Đổng Tề Tài đã nhanh thoăn thoắt trải phẳng tờ giấy hoa tiên lên mặt bàn, cầm bút lông phóng bút viết ngay đề mục cùng câu phá đề đắt giá ấy lên trang giấy.
Tiếp theo đó, mọi người lần lượt đóng góp từng luận điểm để xây dựng phần thân bài hoàn chỉnh. Có người mượn nghi thức tang lễ của các bậc tiền nhân thời cổ đại ra để đối chiếu, so sánh với các hủ tục tang ma thời nay, qua đó chỉ rõ sự suy thoái về tư tưởng của hậu thế. Có người lại lấy tấm lòng chí hiếu của các bậc tiên hiền làm tấm gương soi chiếu, gắn kết lòng dân và phong tục xã hội với vế "dân đức quy hậu" ở phần kết luận.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, chẳng mấy chốc một bài văn mẫu sắc sảo, lập luận chặt chẽ mẫu mực đã được hoàn thành trọn vẹn. Sở Từ cùng Trần Tử Phương ngồi ghé đầu bàn bạc, chỉnh sửa lại đôi chỗ câu từ chưa thật thỏa đáng, sau đó giao bản thảo cho Chu Thừa Viễn và Trương Văn Hải chép lại thành nhiều bản sạch đẹp để mỗi thành viên lưu giữ làm tài liệu học tập.
Lúc này đêm đã về khuya, sương đêm buông xuống lành lạnh, nhưng tinh thần của tám chàng trai trẻ vẫn hừng hực phấn chấn. Cùng nhau chung sức tạo nên một áng văn chương xuất sắc khiến tâm can ai nấy đều ngập tràn niềm vui sướng và thỏa mãn khôn cùng. Mãi đến khi nhìn thấy ánh đèn lồng lập lòe của viên giáo viên đi tuần tra đêm từ xa tiến lại, đám học trò mới vội vàng chắp tay hành lễ từ biệt nhau, lặng lẽ giải tán trở về phòng nghỉ ngơi.
Cùng thời điểm đó, ở một góc khác trong Huyện Học, phe cánh của Tề Húc cũng rục rịch thành lập một học xã tương tự. Bọn họ sau khi nghe ngóng được tin tức bên Bích Lam Đình liền lập tức bắt chước làm theo. Quy mô bên Tề Húc đông đảo hơn hẳn, tập hợp ngót nghét gần hai mươi học trò. Dẫu đám người Sở Từ không ưa tính tình giả tạo của Tề Húc, nhưng không thể phủ nhận hiện tại Tề Húc vẫn là người đứng đầu Giáp ban danh giá, phong thái ngày thường lại luôn tỏ ra ôn hòa, nhã nhặn nên dễ dàng thu hút được đông đảo học sinh vây quanh bám gót. Nhiều kẻ thậm chí còn lấy việc được đứng chung hàng ngũ học xã với hắn làm niềm vinh hạnh tột cùng.
"Hừ, cái đám gánh hát rong ba cọc ba đồng bên kia làm sao sánh nổi với lực lượng hùng hậu, thanh thế ngút trời của chúng ta chứ!" Một tên đệ tử bên phe Tề Húc đắc ý cười nhạo.
Những người xung quanh cũng cười phụ họa theo, tiếng cười mang đầy vẻ ngạo mạn, tự mãn.
...
Ngày mùng năm tháng tư, đêm trước kỳ thi tháng.
Ngày mùng bốn tháng tư là tiết Thanh Minh, thời cổ xưa còn được gọi là Tết Hàn Thực. Vào ngày lễ này, nhà nhà người người đều sắm sửa lễ vật ra đồng nội tảo mộ tổ tiên, gửi gắm niềm tiếc thương và bày tỏ tấm lòng hiếu kính đối với những người đã khuất.
Huyện Học cho toàn thể học sinh được nghỉ tắm gội một ngày, vừa vặn bù lại cho ngày nghỉ mùng một đầu tháng bị hoãn lại trước đó.
Trời còn chưa kịp hửng sáng, cánh cổng lớn Huyện Học đã mở toang. Đông đảo học trò từ các huyện lỵ, làng quê đều hối hả xách tay nải lên đường về quê sum họp gia đình.
Sở Từ cùng Sở Tiểu Viễn ngồi trên cỗ xe ngựa do Từ quản gia phái tới đón, lọc cọc hướng về thôn Trường Khê. Khi xe về tới cổng nhà thì trời cũng mới chỉ vừa tảng sáng. Trong sân, Sở mẫu đã cặm cụi gấp xong một sọt đầy ắp thỏi vàng mã bằng giấy điệp, bên cạnh bày biện đầy đủ hương hoa, rượu thịt và hoa quả tươi để chuẩn bị lên núi làm lễ.
Sở đại ca và Thẩm Tú Nương cũng đã đứng chờ sẵn bên cạnh. Vừa thấy hai chú cháu Sở Từ bước vào sân, Sở đại ca liền thoăn thoắt quẩy hai gánh đồ lễ nặng trịch lên vai hướng về phía chân núi rảo bước. Sở Từ và Sở Tiểu Viễn mỗi người xách một giỏ đồ mã nhẹ nhàng lẽo đẽo theo sau.
Vì ông nội của Sở Từ năm xưa là dân chạy nạn tha hương tới vùng này lập nghiệp, nên phần mộ tổ tiên của gia đình cần cúng bái khá ít ỏi, chỉ gồm ba ngôi mộ nằm cạnh nhau: mộ của ông nội, bà nội và người cha quá cố của Sở Từ.
Sáng sớm mùa xuân, con đường mòn nhỏ men theo sườn núi còn đẫm hơi sương ẩm ướt. Cây cỏ ven đường cọ vào vạt áo để lại những vệt nước mát lạnh. Hoa đỗ quyên rừng nở rộ khắp nơi, chỗ này một khóm đỏ rực, chỗ kia một cụm tím biếc, tô điểm cho núi rừng một vẻ đẹp thanh bình, thơ mộng.
Người thời cổ đại đối với những ngày lễ tang tế này vô cùng cẩn trọng và nghiêm túc. Trên gương mặt của những dòng người lên núi đều trĩu nặng vẻ bi ai sầu khổ, tuyệt nhiên không một ai dám cất tiếng cười đùa hay nói chuyện ồn ào. Ngay cả lũ trẻ con cũng bị bầu không khí tang tóc ấy làm cho sợ sệt, chỉ biết ngoan ngoãn nắm chặt vạt áo người lớn lầm lũi bước đi.
Sở Từ đi giữa dòng người trên núi, thần thái lại hoàn toàn khác biệt so với số đông xung quanh: gương mặt hắn vô cùng thư thái, nhẹ nhõm, ánh mắt thong dong ngắm nhìn cảnh sắc thiên nhiên non nước hữu tình. Suốt mấy ngày qua hắn phải quay như chong chóng giữa việc học ở Huyện Học và chạy sang nhà Hứa tiên sinh chịu trận mắng mỏ, đã lâu lắm rồi mới có dịp thảnh thơi dạo bước giữa chốn đồng quê thanh tịnh thế này. Hắn nhận thấy thi thoảng ra ngoài hít thở khí trời quả thực khiến tâm hồn sảng khoái hơn rất nhiều.
Thế nhưng vẻ mặt thư thái tự tại ấy vô tình lọt vào tầm mắt của Trương lão phu tử — một vị tú tài già bảo thủ, khó tính trong làng. Ông lão lập tức hừ mũi một tiếng thật mạnh, cất giọng bóng gió trách móc hắn là kẻ bất kính với tổ tiên, đi tảo mộ mà mặt mày phởn phơ như đi trẩy hội.
Sở Từ thầm nghĩ trong bụng: Lời đồn đại ác ý này mà để truyền ra ngoài thì hỏng bét thanh danh! Hắn lập tức nghiêm nét mặt, dừng bước chắp tay dõng dạc nói:
"Bẩm phu tử, vãn bối tuyệt đối không phải kẻ bất kính với tiền nhân, mà ngược lại, con cho rằng giữ được tâm thế an vui mới chính là sự hiếu kính lớn nhất dành cho các bậc tổ tiên! Những người đang an nghỉ trên ngọn núi này là ai cơ chứ? Họ đều là ông bà, cha mẹ, là tổ tiên ruột thịt của chúng ta. Từ ngàn xưa đến nay, tâm nguyện lớn nhất của các bậc trưởng bối khi nhắm mắt xuôi tay chẳng phải là mong ước cho con cháu đời sau được sống một đời bình an, hạnh phúc, ấm no hay sao? Nếu hôm nay con cháu lên núi viếng mộ mà ai nấy đều mang bộ mặt sầu thảm, khóc lóc ủ rũ như vừa trải qua đại họa, thử hỏi vong linh tổ tiên nhìn thấy chẳng phải sẽ đau lòng nghĩ rằng chúng ta ở chốn trần gian đang sống vô cùng bất hạnh khốn khổ hay sao? Chẳng lẽ chúng ta không nên vui vẻ, thư thái, để tổ tiên nơi chín suối nhìn thấy con cháu mình đang sống một cuộc đời an khang, thịnh vượng, để người yên lòng mà ngậm cười an nghỉ hay sao ạ?"
Bà con dân làng đang đi quanh đó nghe Sở Từ phân tích khúc chiết từng lời thì không khỏi gật gù tấm tắc: Ừ nhỉ, ngẫm kỹ lại thấy cậu tú tài nói đúng quá chừng! Quả nhiên không hổ danh là người đọc nhiều hiểu rộng!
Trương lão phu tử nghẹn họng trân trối, tức tối hừ lạnh thêm một tiếng nữa. Ông dẫu có bảo thủ đến đâu thì cũng chẳng thể mặt dày bảo rằng tổ tiên dưới suối vàng muốn con cháu phải sống đau khổ được! Bởi vậy, ông đành ngậm bồ hòn làm ngọt, để mặc cho người nhà dìu rảo bước nhanh hơn lên núi.
Mọi người thấy Trương phu tử không nói lại được câu nào, thầm hiểu rằng ông đã ngầm đồng thuận với lý lẽ của Sở Từ, thế là bầu không khí nặng nề u ám lập tức tan biến. Mọi người bắt đầu thả lỏng nét mặt, những nụ cười nhẹ nhõm xuất hiện, ngay cả lũ trẻ con cũng thở phào một hơi, bước chân trở nên tung tăng nhẹ nhõm hơn hẳn.
Ba ngôi mộ của gia đình họ Sở được táng cạnh nhau trên một gò đất thoai thoải. Nơi đầu tiên cả nhà bước tới làm lễ chính là phần mộ của ông nội Sở Từ.
Đó chỉ là một nấm mồ đất nhỏ đơn sơ, bên trên cắm một tấm cọc gỗ đã mục nát theo năm tháng. Trải qua mưa gió dập vùi suốt bao năm ròng, những dòng chữ khắc trên thân gỗ đã bị bào mòn mờ căm, gần như không còn nhìn rõ được tên tuổi. Nhà họ Sở bao đời nay bần hàn cơ cực, việc thuê thợ đá đẽo gọt một tấm bia đá tử tế tốn kém ngót nghét cả lượng bạc trắng. Lo liệu một đám tang ma chu toàn vốn đã khánh kiệt gia sản, thì lấy đâu ra tiền của dư dả để dựng bia khắc đá cho người đã khuất cơ chứ...
Bình luận0
Chia sẻ cảm nhận của bạn về bộ truyện này
Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.