Đại Minh Huyền Học: Ngõa Lạt Lưu Học Sinh › Chương 9
Chương 9: Âm thầm che giấu
Chương 9· 2.618 từMiễn phí
Chương 9: Âm thầm che giấu
Lưu Kính là một Cẩm Y Vệ kỳ cựu, kiến thức phong phú, thấy hòa thượng bị lôi tới cũng luẩn quẩn trong rừng mai mãi không tìm được lối ra liền biết ngay hòa thượng này cũng đã mắc mưu trúng trận.
Lưu Kính cau mày, tay nắm chuôi đao: “Vườn mai này chẳng phải thuộc về chùa các ngươi sao? Một vườn mai cỏn con, cớ sao lại có mê chướng?”
Hòa thượng mồ hôi vã ra như tắm, vội vàng thanh minh: “Vườn mai tuy thuộc quyền sở hữu của chùa, nhưng trụ trì từng dạy cảnh đẹp chốn thiền môn nên để thế nhân cùng thưởng lãm, thế nên chỉ xây hai bức tường bao, hai phía còn lại trước nay đều để ngỏ, ai ai cũng có thể vào vườn ngắm cảnh. Bần tăng cùng mọi người chỉ làm chút việc cắt tỉa cành, bón phân tưới nước, thời gian còn lại đều để mặc cây mai tự nhiên phát triển, chưa từng can thiệp vào chuyện trong rừng. Thật sự không biết vườn mai này từ khi nào lại dâng lên mê chướng, đến nỗi vây khốn cả bần tăng.”
Lưu Kính hừ lạnh một tiếng.
Hòa thượng thoáng suy nghĩ rồi nói: “Phàm là mê chướng đều phải mượn nhờ ngoại vật. Cây mai thì không thể xê dịch, trong rừng thứ dịch chuyển được nhiều nhất chính là đá. Chi bằng chúng ta thử dịch chuyển tất cả những hòn đá nhìn thấy xem sao? Biết đâu có thể phá được mê chướng này.”
Trong lòng Lưu Kính nghẹn một ngọn lửa giận, cố nén bực bội đi đá những hòn đá lọt vào tầm mắt. Cách này chưa chắc đã hữu dụng, gã biết những mê trận cao thâm thì ngay cả vật liệu bố trí mắt thường cũng chẳng nhìn thấy được.
Gã đá văng mấy hòn đá, liền nhìn thấy dưới gốc mai cách đó không xa có một tảng đá lớn cần phải dùng tay khiêng đi.
Mặt gã khó đăm đăm bước tới đẩy tảng đá ra. Vừa đứng dậy liền phát hiện gốc mai ban nãy nhìn thấy thực chất cách tảng đá này rất xa. Tảng đá vừa được dời đi, phía trước bỗng lộ ra một khoảng trống thênh thang giữa hai rặng mai.
Mày Lưu Kính nhíu chặt, nhìn quanh một vòng cảnh tượng bỗng nhiên biến đổi, hai tay tỳ lên chuôi đao chậm rãi bước vào.
Cảnh tượng bừng sáng, đây là khoảng đất trống giữa hai hàng cây mai, mặt đất bằng phẳng không một tì vết, đương nhiên cũng chẳng có bóng người nào.
Làm sao có một mảnh đất mà ngay cả nửa dấu chân cũng không lưu lại được chứ?
Lưu Kính ngoái đầu nhìn lại nơi bọn họ vừa đi qua, rồi lại nhìn mảnh đất này, càng nhìn càng thấy quái lạ. Gã dùng mũi chân nghiền nghiền lớp đất cát, rồi ngồi thụp xuống quan sát kỹ lưỡng. Thật kỳ lạ, lớp đất này mới cũ đan xen.
Gã nằm rạp xuống đất ngửi mùi bùn đất, sắc mặt khẽ biến, lập tức đứng bật dậy nhìn quanh bốn phía.
Hòa thượng lon ton chạy lại, tò mò hỏi: “Thí chủ, có chuyện gì thế ạ?”
Lưu Kính sa sầm mặt hỏi: “Hôm nay có những ai từng đến vườn mai?”
Hòa thượng ngơ ngác đáp: “Bẩm thí chủ, vườn mai này nằm ngoài chùa, ngày thường cửa sau chùa đều khóa kín... Hôm nay trong chùa không có tăng nhân nào ra đây cả, bần tăng thực sự không biết ai đã tới vườn mai.”
Lưu Kính rảo mắt quan sát khắp nơi. Ánh mắt gã ngưng lại, đẩy hòa thượng sang một bên, tiến lại gần một gốc mai xem xét cẩn thận.
Hòa thượng cũng nhìn thấy, kinh hãi thốt lên: “Ai da! Là ai chém mà bổ vào thân mai một nhát sâu hoắm thế này cơ chứ!”
Vết chém trên thân cây mai vô cùng nham nhở, vỏ cây và thớ gỗ tưa ra tứ tung, nhưng vết chém còn rất mới, chứng tỏ mới bị chém cách đây không lâu.
Lưu Kính chăm chú nhìn vết chém, nhận ra người vung đao đã dùng sức rất mạnh, vết đao ăn sâu vào thân gỗ, ắt hẳn rất khó rút ra, thế nên đối phương đã phải lắc lư lên xuống rung lắc nhiều lần mới rút được đao ra, khiến vết thương trên thân cây trở nên nham nhở tơi tả như vậy.
Lưu Kính tìm kiếm hồi lâu mới tìm thấy một mảnh vụn gỗ rơi rụng bên kia gốc mai.
Gã nhíu mày nhìn mảnh đất này, cảm thấy nó sạch sẽ đến mức kỳ lạ.
Từ vết thương trên thân cây có thể nhận ra người rút đao và người chém cây không phải là một. Kẻ rút đao sức lực không lớn, thậm chí chiều cao cũng không đủ, nên mới phải rung lắc lên xuống nhiều lần để rút đao.
Trong tình huống như vậy, mặt đất lẽ ra phải vương vãi rất nhiều dăm bào vụn gỗ mới đúng.
Lưu Kính đi quanh quẩn, cuối cùng nhắm vào vị trí đối diện vết thương trên cây, dùng tay bới bới lớp đất mặt. Chỉ chốc lát sau, gã đã bới ra không ít dăm bào vụn gỗ cùng vài mẩu gỗ lớn hơn bị vùi lấp bên dưới.
Lưu Kính nắm những thứ này trong lòng bàn tay, ánh mắt lại không tự chủ được hướng về phía mảnh đất ban nãy gã từng nằm xuống ngửi...
Trong lúc gã đang trầm tư, hòa thượng cẩn thận hỏi: “Thí chủ, cái cây này có vấn đề gì chăng?”
“Không có gì,” Lưu Kính rũ mắt che giấu mọi cảm xúc, đứng dậy nói: “Cây này bị chém thế này rõ ràng không sống nổi, giữ lại chẳng có ích gì. Ngươi gọi người đốn hạ nó đi, trồng lại cây khác.”
Hòa thượng nhìn vết chém to tướng, định bụng bảo cây mai sức sống mãnh liệt, vết thương tuy lớn nhưng vẫn sống tốt.
Nhưng chạm phải ánh mắt lạnh lùng của Lưu Kính, hòa thượng nuốt lời vào trong, vội vàng nhận lời.
Lưu Kính nhìn chằm chằm vào mắt hòa thượng, nhấn mạnh từng chữ: “Tốt nhất là chặt ngay lập tức. Miệng vết thương này trông chướng mắt lắm, dọa người.”
Hòa thượng rối rít: “Bần tăng sẽ cho người chặt ngay.”
Lưu Kính liếc nhìn xung quanh lần cuối rồi bảo: “Lát nữa ta sẽ quay lại kiểm tra.” Ý bảo phải chặt trước khi gã quay lại.
Hòa thượng đành ngậm ngùi vâng dạ.
Lưu Kính lại từ cửa sau bước vào trong chùa. Lần này gã càng chú ý hơn tới những dấu vết trên mặt đất.
Nhưng vừa qua cửa sau đã là đường lát đá xanh, người qua lại trong chùa lại đông đúc, gã chẳng nhìn ra được manh mối gì.
Gã liền tìm đến vị tăng nhân tiếp khách của chùa để dò hỏi xem hôm nay có những ai ra vào chùa: “Hôm nay có bé gái nào chừng bảy tám tuổi ra vào chùa không?”
Tăng nhân tiếp khách suy nghĩ một lát rồi lắc đầu: “Hôm nay không có nữ thí chủ nhỏ tuổi nào cả.”
Lưu Kính cau mày, nghĩ rằng mình đã đoán sai, liền quay trở lại vườn mai.
Hòa thượng đã dẫn người đốn hạ cây mai, cành nhánh bị chặt ngổn ngang chất đống trên mặt đất, hiện trường một mảnh hỗn độn.
Hiện trường vốn dĩ đã khó tìm kiếm chứng cứ, giờ đây lại càng không thể nhận ra bất kỳ dấu vết nào.
Lưu Kính đứng lặng một bên nhìn hồi lâu với vẻ mặt sâu xa khôn lường, cho đến khi hòa thượng rụt rè lên tiếng: “Thí chủ, gốc mai này trồng đã lâu năm, rễ sâu bám chắc, nhất thời chưa đào bật gốc lên được, đãi ngày mai...”
“Không cần đào,” Lưu Kính nói: “Ta thấy gốc rễ cây mai này vẫn còn tốt, chắc có thể đâm chồi nảy lộc lại. Cứ để thế đi.”
Hòa thượng cạn lời: Ngài chẳng chịu nói sớm, làm bần tăng chặt trơ trọi chỉ còn lại hai cái mấu cây thế này!
Nhưng hòa thượng đâu dám cãi lại Cẩm Y Vệ, đành vâng dạ bảo đảm sẽ chăm sóc cho nó sớm đâm chồi.
Lưu Kính xoay người trở về Trấn Phủ Tư.
Vương Dũng không quay về.
Liên tiếp ba ngày Vương Dũng bặt vô âm tín, Trấn Phủ Tư rốt cuộc phái người tới Vương gia tìm, biết được Vương Dũng cũng ba ngày chưa về nhà, lúc này Trấn Phủ Tư mới nhận ra điều bất thường.
Nhưng Lưu Kính tuyệt nhiên không hé nửa lời.
Gã đem mấy mẩu gỗ vụn cùng con chim giấy cất chung một chỗ, đậy nắp tráp lại đặt vào trong ngăn kéo. Trầm ngâm giây lát, gã vẫn cầm lấy con chim giấy đi tới Phan gia một chuyến.
Người nhà họ Phan đang thu dọn hành lý đóng gói.
Chuyện xảy ra ba ngày trước dường như đã dọa họ khiếp vía, Phan gia quyết định cả nhà dọn về quê quán, không ở lại kinh thành nữa.
Thấy Cẩm Y Vệ lại kéo đến, sắc mặt Phan Đào vô cùng khó coi, nhưng không thể không gượng dậy ứng phó.
Lưu Kính dạo quanh một vòng trong sân, ánh mắt lướt qua từng gương mặt, hỏi: “Hôm ấy con chim giấy treo dưới mái hiên là do ai làm?”
Phan Đào nhìn con chim giấy trong tay gã, tim đập thình thịch, giả vờ ngây ngô: “Đại nhân nói chim giấy nào cơ? Ngày hôm ấy hỗn loạn, người nhà đều kinh hồn bạt vía, Phan mỗ hoàn toàn không nhớ có con chim giấy nào.”
Lưu Kính cười như không cười nhìn ông ta, ngón tay gõ nhẹ lên chuôi đao. Phan Bách đứng bên cạnh vội vàng chen vào: “Bẩm đại nhân, con chim giấy đó là do tiểu nhân treo đấy ạ! Tiểu nhân thấy người ta bán rong ngoài sạp hàng ven đường, thấy ngồ ngộ nên mua về treo chơi.”
Phan Bách vội chạy tọt vào phòng cầm ra một túi tiền bạc, nhét vào tay Lưu Kính, cung kính khúm núm: “Đại nhân chê con chim giấy đó chướng mắt sao ạ? Hay là để tiểu nhân thu hồi lại...”
Lưu Kính nhận tiền, hừ mũi một tiếng với bọn họ, chẳng hề trả lại con chim giấy mà quay người bước thẳng ra ngoài.
Chẳng ai biết gã rốt cuộc chỉ tùy tiện kiếm cớ đến vòi tiền hối lộ, hay thực sự đã phát hiện ra điều gì từ con chim giấy đó và tiện tay đút túi một món tiền.
Bất kể là trường hợp nào thì Phan gia cũng không thể dây dưa thêm được nữa.
Gã vừa đi khỏi, Phan Đào liền dứt khoát: “Chúng ta không thể ở lại đây thêm ngày nào nữa, sáng sớm mai phải đi ngay!”
Vương thị lo lắng: “Nhưng đồ đạc...”
“Cái gì không mang theo được thì đem cho hàng xóm láng giềng, bằng không thì để lại cho chủ nhà tiếp theo! Sáng sớm mai chúng ta lập tức lên đường,” Phan Đào ngắt lời: “Tính mạng là trên hết, Cẩm Y Vệ rõ ràng đã nhắm vào chúng ta không buông!”
Vương thị âu lo muôn phần, hạ giọng: “Chúng ta cứ thế mà đi, ngộ nhỡ con bé tìm về không thấy chúng ta thì biết làm sao?”
Phan Đào: “Im miệng! Từ nay về sau tuyệt đối không được nhắc lại chuyện này, cẩn thận tai vách mạch rừng!”
Phan Đào lòng dạ xót xa như bị ngàn vạn con kiến gặm nhấm. Ba ngày rồi, con bé nếu có thể trở về thì sớm đã trở về rồi.
Phan Đào vào phòng báo với mẫu thân chuyện sáng mai lên đường.
Phan lão thái thái hé miệng toan hỏi, nhưng lại không dám hỏi thành lời.
Cẩm Y Vệ có mặt khắp nơi, chẳng ai biết giờ phút này bọn chúng có đang nấp ở góc nào rình rập hay không.
Phan Đào nửa quỳ trước gối bà, thì thầm: “Mẹ à, chúng ta về quê. Về tới nhà rồi sẽ ổn, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp thôi.”
Nước mắt Phan lão thái thái lã chã tuôn rơi, nghẹn ngào: “Đường về Thường Châu phủ xa ngàn dặm, gia cảnh lại bần hàn, già có trẻ có, đi đứng làm sao đây?”
Lúc đứa nhỏ kia rời đi, bà hoảng loạn chẳng biết làm sao, đến lộ phí cũng chưa kịp chuẩn bị cho con bé. Cả nhà bọn họ cùng nhau về quê còn gian nan trắc trở muôn phần, huống chi một đứa trẻ con non nớt một thân một mình ngoài đời?
Phan lão thái thái chỉ biết lặp đi lặp lại: “Tiền bạc chuẩn bị chưa? Lộ dẫn chuẩn bị xong chưa?”
Phan Đào biết bà không phải hỏi cho gia đình mình, mà là đang lo lắng cho Phan Quân. Nước mắt ông cũng trào ra, nhưng chỉ có thể gật đầu nghẹn ngào: “Chuẩn bị đủ cả rồi mẹ ạ. Mẹ đừng lo, mọi chuyện sẽ bình an, tất cả rồi sẽ tốt đẹp thôi.”
Phan lão thái thái nghĩ đến gia đình trưởng tử đang chịu án lưu đày ở Đại Đồng, rốt cuộc cũng gượng dậy tinh thần, cùng mọi người thu dọn hành lý, chuẩn bị lương khô đi đường.
Ngày hôm sau, cả nhà họ Phan từ biệt bà con lối xóm, ngồi lên chiếc xe thuê từ xa mã hành xuất phát về phương nam.
Hành lý nhiều, lại có người già nên xe ngựa đi rất chậm chạp, ước chừng phải mất mười đến mười lăm ngày mới tới được Thường Châu phủ.
So với họ, ba người Phan Quân chỉ dựa vào đôi chân, thỉnh thoảng quá giang nhờ xe đi đường, tốc độ nhanh hơn rất nhiều. Chỉ trong ba ngày ngắn ngủi, bọn họ đã từ kinh thành đi tới Đại Danh phủ.
Lúc này ba người đang ngồi ăn mì ở một quán cóc ven sông. Phan Quân ngẩng đầu nhìn con kênh đào tấp nập thuyền bè cách đó không xa, cất tiếng hỏi: “Sao chúng ta không đi thuyền?”
Đào Quý: “Không có tiền.”
Phan Quân: “Cũng đúng thôi, một đạo sĩ mà phải đi ở nhờ chùa của hòa thượng thì nghĩ cũng biết là rỗng túi rồi.”
Đào Quý tức khắc thấy bát mì trong tay mất ngon, ngừng đũa trừng mắt nhìn nàng: “Ngươi có ăn nữa không? Không ăn thì lên đường ngay, ngày mai phải đi tới Khai Phong phủ đấy!”
Đi bộ rã rời cả hai chân, Phan Quân đành nén giận cúi đầu ăn mì. Cả đời này nàng chưa từng phải đi bộ nhiều đến thế.
Con mèo đen ngồi xổm một bên ăn hết phần mì được vớt ra từ bát, tao nhã đưa vuốt lau lau miệng, sau đó kêu meo meo hai tiếng với Phan Quân rồi chìa móng vuốt ra.
Phan Quân không chút biểu cảm rút chiếc khăn tay lau móng cho nó. Thấy khóe miệng nó còn dính váng mỡ định lau nốt thì con mèo đen bỗng ngoảnh ngoắt đầu đi, vẻ mặt ghét bỏ gạt tay nàng ra.
Bình luận0
Chia sẻ cảm nhận của bạn về bộ truyện này
Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.